Thứ hai, ngày 09 tháng năm năm 2011

“Xin bắt đầu từ cơm no áo ấm...”


Lê Đức Dục (TT) - Có quá nhiều câu chuyện về những sân golf mọc lên, nhưng không biết những nguồn thu từ sân golf kia có giúp chút gì cho số phận những người dân mất ruộng hay không? Những bãi biển được quy hoạch cho resort năm sao, nhưng có người dân sở tại nào đã được khá lên từ nguồn tiền thu ở các resort năm sao kia?

“Hãy thức dậy đất đai
Cho áo em tôi không còn vá vai
Cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn...
Xin bắt đầu từ cơm no áo ấm
Rồi đi xa hơn - đẹp và giàu, và sung sướng hơn...“.

Những câu thơ ấy của Nguyễn Duy viết từ 30 năm trước trong bài Đánh thức tiềm lực chợt hiện về khi đọc bài báo trên Tuổi Trẻ ngày 5-5 viết rằng 24 vạn người dân Thanh Hóa đang đói ăn. Thanh Hóa cũng là quê hương của nhà thơ Nguyễn Duy nên hơn ai hết, ông đã đồng cảm với khát vọng cơm no áo ấm của người nông dân từ trong máu thịt. Cho dù đang sống ở xứ sở được đánh giá là “lạc quan nhất thế giới“ thì nhìn tấm hình người phụ nữ đang gỡ những bắp ngô làm giống trên giàn xuống để ăn không khỏi khiến chúng ta quặn thắt lòng.

Bởi thế khi nhắc đến mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp (nghĩa là chỉ còn chưa đầy chín năm nữa) thì câu chuyện về những người dân đang đói ở một tỉnh nghèo miền Trung những ngày này càng khiến nhiều người giật mình không tin.

Khó tin chuyện dân đang đói bởi bây giờ Việt Nam đã là cường quốc xuất khẩu gạo, thu nhập bình quân đầu người đã vượt qua con số ngàn đôla, những đô thị đã chật chội cao ốc cao cấp, hiện đại.

Khó tin được vì ở Việt Nam đã là bình thường chuyện đại gia đi xe triệu đô. Đã không còn lạ chuyện có nhiều người ăn bát phở bò Kobe ở Hà Nội với giá cao hơn cả tháng lương cơ bản vừa được tăng (850.000 đồng/830.000 đồng). Thành phố mọc lên nhiều trung tâm thương mại với những nhãn hàng mà có những cái túi xách bé tí lại bằng giá tiền của vài chục con trâu!

Cũng trên báo Tuổi Trẻ hôm qua (8-5), tại xã Keng Đu (huyện Kỳ Sơn, Nghệ An) - nơi thuộc loại nghèo nhất nước, câu chuyện đến trường học chữ của những em bé rẻo cao cũng khiến chúng ta xúc động không kém hình ảnh người dân huyện Mường Lát phải dùng đến ngô giống để ăn cầm cự qua ngày.

Hai hình ảnh ấy đều có một mẫu số chung, đó là sự nghèo khó: một câu chuyện về khát vọng cơm no của dân Mường Lát (Thanh Hóa) và câu chuyện của những em bé Keng Đu (Nghệ An) là áo ấm đến trường.

Hơn một phần tư thế kỷ đổi mới, đất nước đã có những bước tiến thần kỳ về kinh tế - xã hội, nhưng rõ ràng câu chuyện về những người dân thiếu ăn, những em học sinh mẫu giáo tự kiếm củi sưởi cho ấm lớp để có thể ngồi học... những ngày này khiến ta không thể không băn khoăn về hai điều khát vọng xưa cũ: cơm no và áo ấm trước khi nói đến cơm ngon và áo đẹp.

Có quá nhiều câu chuyện về những sân golf mọc lên, nhưng không biết những nguồn thu từ sân golf kia có giúp chút gì cho số phận những người dân mất ruộng hay không? Những bãi biển được quy hoạch cho resort năm sao, nhưng có người dân sở tại nào đã được khá lên từ nguồn tiền thu ở các resort năm sao kia?

Có thể dẫn ra hàng ngàn câu chuyện từ rừng xuống biển như thế, và hình như phần thua thiệt trong câu chuyện phát triển luôn là những người nông dân.

Câu chuyện nạn đói ở rẻo cao Thanh Hóa hay chuyện các em thơ còn phong phanh áo mỏng đến trường trong giá rét thật ra không phải là hình ảnh khó thấy ở những vùng sâu heo hút hay rẻo cao sơn cước trên đất nước này. Đó cũng là một nan đề của bài toán phát triển mà đừng tưởng rằng chúng ta đã giải nó dễ dàng.

Có lẽ bài toán với đất nước hôm nay cũng giản dị như câu thơ của Nguyễn Duy trong bài thơ mấy chục năm trước, rằng:

“Xin bắt đầu từ cơm no áo ấm
Rồi đi xa hơn - đẹp và giàu, và sung sướng hơn!”.

Lê Đức Dục

Thiên tài đảng ta


Thanh Hoá: thiếu đói từ miền xuôi lên miền ngược
An Bình (SGTT.VN) - Đã lâu lắm rồi bà con nông dân nghèo ở các huyện từ miền biển, trung du đến các huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Thanh Hoá mới phải đối mặt với cái đói trên diện rộng như năm nay. Hàng chục ngàn hộ dân nơi đây đang thiếu đói lương thực.

Chạy ăn từng bữa

Thiếu gạo trầm trọng, nhiều hộ dân ở thôn Đông Tân,
xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá phải đào khoai
ăn độn hàng ngày. Ảnh: An Bình

Chúng tôi về xã ven biển Đa Lộc – điểm nóng trong mùa đói giáp hạt của huyện Hậu Lộc vào những ngày này. Cánh đồng lúa chiêm xuân thời điểm này lẽ ra đang vào thời kỳ làm đòng, nhưng giờ chỉ còn lơ thơ vài gốc rạ. Đồng lúa cằn cỗi bởi vùng đất này nhiễm mặn nặng. Trên nhiều thửa ruộng, đến cỏ cũng không mọc được.

Ông Vũ Văn Đỉnh, phó chủ tịch UBND xã Đa Lộc cho biết: vụ chiêm xuân năm 2011, toàn xã gieo cấy được 250ha lúa, nhưng đến thời điểm này đã chết và mất trắng 150ha. Đất nhiễm mặn nặng một phần lớn, còn thêm đợt gieo cấy tết Tân Mão gặp rét đậm, rét hại.

Từ năm 2008 đến nay, năm nào Đa Lộc cũng bị mất trắng gần một nửa diện tích lúa nước và cây màu các loại do đất nông nghiệp bị nhiễm mặn nặng. Độ mặn trên diện tích đất nông nghiệp của xã nhiều nơi đã lên tới 5‰. Do bị mất mùa nhiều năm qua, nên hiện nay Đa Lộc có tới 1.500 hộ/2.300 hộ dân đang bị thiếu đói lương thực gay gắt, cần sự cứu trợ của Nhà nước.

Đến thôn Đông Tân, xã Đa Lộc, chúng tôi bắt gặp nhiều gia đình đang phải đào khoai lang non để ăn độn vì thiếu gạo. Gia đình ông Vũ Văn Bản, 64 tuổi cũng hết gạo ăn nhiều tháng nay, do gieo cấy một sào lúa nhưng bị mất mùa hoài. Hàng ngày, ông Bản và vợ phải lăn lộn ở ven biển đi bắt con cáy bán lấy tiền đong gạo. Đã lâu lắm rồi vợ chồng ông Bản không biết đến ăn bữa sáng. Chật vật kiếm tiền cả ngày chỉ đủ mua vài ống gạo. Hai bữa chính, mỗi bữa ông bà chỉ ăn cơm độn khoai lang với canh rau và mắm cáy. Nhiều hôm, hai ông bà phải bấm bụng đi ký nợ gạo ở các đại lý. Có lúc ký nợ nhiều, các chủ đại lý gạo e ngại, vợ chồng ông Bản đành nhịn đói.

Gia đình bà Vũ Thị Thuận (54 tuổi) cũng ở thôn Đông Tân còn cám cảnh hơn. Ba năm mất mùa triền miên vì hai sào ruộng cấy lúa không có thu hoạch. Không may, năm ngoái chồng bà là ông Nguyễn Văn Minh lại bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, hiện không còn khả năng lao động. Ba đứa con của bà Thuận phải bỏ học giữa chừng, ra Hà Nội làm thuê kiếm tiền thuốc thang cho bố và mua gạo ăn hàng ngày cho gia đình. “Cả năm nay gia đình tôi phải chạy gạo ăn từng bữa”, bà Thuận nói. Cảnh đong gạo ăn từng bữa, bấp bênh đang là nỗi lo thường trực của bà con nông dân ở xã nghèo ven biển Đa Lộc.

Tại các huyện vùng biển khác như Nga Sơn, Hậu Lộc, Quảng Xương, Tĩnh Gia, các loại cây trồng như lúa, bắp, đậu các loại đều bị chết, hoặc giảm năng suất cũng do đất bị nhiễm mặn nặng. Bên cạnh đó, do giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao, nhiều tàu thuyền đánh bắt hải sản nằm bờ, nên bà con ngư dân thiếu gạo ăn là điều khó tránh khỏi.

Còn tại huyện vùng cao Mường Lát – địa phương trọng điểm của thiếu đói lương thực ở Thanh Hoá, ông Lương Văn Bường, chủ tịch UBND huyện cho biết: “Trên địa bàn hiện có tới 1.878 hộ (9.049 nhân khẩu, chiếm gần 1/3 số người của huyện) đang thiếu đói gay gắt. Nguyên nhân chính là đồng bào ở đây thiếu đất sản xuất lúa nước, đất nương rẫy để có thể tự túc lương thực. Toàn huyện hiện chỉ có 560ha đất nông nghiệp cấy được lúa nước, trên tổng số hơn 30.000 nhân khẩu ở nông thôn. Còn diện tích nương rẫy gieo trồng bắp, lúa nương trong năm 2010 lại bị hạn hán kéo dài, mất mùa trên diện rộng. Chúng tôi đến xã Mường Lý (huyện Mường Lát) – xã nghèo nhất tỉnh Thanh Hoá với tỷ lệ hộ đói nghèo còn trên 80% khi mùa đói giáp hạt đang ở diện rộng. Bữa cơm trưa của gần 300 em học sinh địa phương trọ học ngay cạnh trường THCS Mường Lý chỉ có cơm gạo xấu ăn với măng rừng, chan nước trắng. Thầy Trần Văn Hào – hiệu trưởng trường THCS Mường Lý cho biết: “Các em học sinh trọ học cạnh trường chủ yếu thuộc diện hộ nghèo, nhiều em thiếu gạo ăn...”

Xin cứu trợ

Nhiều thửa ruộng ở xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá
bị nhiễm mặn, lúa chiêm xuân chết hết. Ảnh: An Bình

Trao đổi với chúng tôi, ông Trịnh Văn Chiến, phó bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá cho hay, đối với huyện Mường Lát, UBND tỉnh đã giao cho sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành lập đội công tác đặc biệt để giúp Mường Lát phát triển kinh tế – xã hội. Đội công tác này sẽ triển khai ngay việc giúp Mường Lát tập trung khai hoang để mở rộng diện tích đất cấy lúa nước, trồng bắp, lúa nương; lựa chọn các loại cây màu phù hợp, con giống phù hợp hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện phát triển kinh tế, từng bước đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống.

Đối với các huyện ven biển có diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn nặng, ảnh hưởng lớn đến cây trồng, UBND tỉnh đã và đang tích cực đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi, với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm tỉ đồng, nhằm dẫn nước ngọt về thau chua, rửa mặn để trong những vụ tới bà con nông dân các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc có thể gieo cấy lúa, trồng các loại cây màu trên diện tích đất nông nghiệp lâu nay bị nhiễm mặn. Hiện nay, nhiều hệ thống thuỷ lợi ở huyện Nga Sơn, Hậu Lộc đã hoàn thành.

Ngày 5.5, phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá Vương Văn Việt đã ký công văn số 2592/UBND-DTMN gửi Thủ tướng Chính phủ xin hỗ trợ gạo cứu trợ nhân dân Thanh Hoá trong thời kỳ giáp hạt năm 2011. Đợt này, tỉnh Thanh Hoá xin Trung ương hơn 2.048 tấn gạo để cứu trợ cho 71.395 hộ (136.574 nhân khẩu) đang thiếu đói lương thực thời kỳ giáp hạt. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo các địa phương trích ngân sách mua gạo cứu đói cho nhân dân.

bài và ảnh: An Bình

ĐƯA HÀ VŨ RA TÒA – CÔNG AN VÀ TÒA ÁN CS “CÚI ĐẦU NHẬN TỘI” TRƯỚC VŨ VÀ QUỐC DÂN

Sơ kết dư luận sau phiên tòa 4-4-2011 – Trích Diễn Đàn Paltalk VietnamExodus

Ngày 4-4-2011, bạo quyền VGCS đưa Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ ra tòa, tuyên án 7 năm tù giam, 3 năm quản chế. Một tháng đã trôi qua, luật sư cũng như gia đình của “nghi can” vẫn chưa nhận được bản án; riêng vợ của Hà Vũ – bà Dương Hà – chưa được phép thăm nuôi chồng. Dư luận khắp nơi, từ trong ra ngoài nước, kể cả nền thông tin “lề phải”, bói không ra một lời khen; tiếng chê thì tràn ngập. Không đợi đến khi bản án được đọc lên, cũng không cần nghe ngóng xem chế độ loay hoay cách chi trước vụ tai tiếng – scandal – này, ngay khi công an bắt giữ TS Vũ với “hai bao cao su đã qua xử dụng”, ai nấy đều thấy rõ : bạo quyền phen này “hóc xương”, “tự mua giây thắt cổ”. Với “Án Sử Cù Huy Hà Vũ”, quốc dân và quốc tế có thêm một dòng trên “Bản Án Chế Độ Cộng Sản Việt Gian Cố Bám”.

Trong Chiến Tranh Cục Bộ thời Chiến Tranh Lạnh, khi giặc Hồ tự khai “… ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”, y đã “cúi đầu nhận tội” tay sai đánh giặc thuê cho Đế Quốc Đỏ.

Thời 1990-91, khi Liên Xô sụp đổ, Đế Quốc Đỏ vỡ ra làm hai, đảng csvn vội vã sửa Hiến Pháp, xóa bỏ câu “… Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất…”, rồi cho Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Hồng Hà sang Tàu “trói mình chuộc tội”, chúng đã “cúi đầu nhận tội” bán nước cho Tàu. Từ đó, VN trở thành một “bộ phận” trong nửa còn lại của Đế Quốc Đỏ; VGCS bám đuôi Tàu, tiếp tục kiếp “thừa sai” nô lệ.

Năm ngoái, khi hốt hoảng trước áp lực “đổi mới chính trị”, tên đầu sỏ bù nhìn chủ tịch nước CHXHCN/VN hô hoán “… bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát”. Y đã “cúi đầu nhận tội” cố bám. Y và đồng bọn thà mất nước để “còn đảng còn mình”.

Gần đây, một tên chóp bu VGCS đã “ra rìa”, trước tình hình khủng hoảng mọi mặt, mà “đảng ta” bất lực, “hết thuốc chữa”, phải lên tiếng thú nhận : đó là do “lỗi cơ cấu”. Thú nhận này chứng tỏ, vì “duy ý chí”, bất chấp ‘quy luật khách quan”, bọn cầm quyền VGCS đã chọn ôm xác chết cộng sản mà chết theo nó.

Mới đây, sau đại hội XI, một tên “lú lẫn” trong bộ chính trị đảng csvn họp báo quốc tế,“phạch ngực ra” tuyên bố “… không có nhu cầu đa nguyên đa đảng”, y đã “cúi đầu nhận tội” độc quyền độc đảng, cai trị đất nước kiểu “cách mạng văn hóa Tàu”.

Trong phiên xử ngày 4-4-2011, nghi can Vũ xuất hiện như một quan tòa, và công an cũng như pháp Quyền XHCN ra tòa như những phạm nhân, ấp úng “cúi đầu nhận tội” vô pháp luật. Từ văn bản pháp lý đến thủ tục tố tụng, từ trong phòng xử đến ngoài khuôn viên, khu phố lân cận, với dùi cui điện và chó nghiệp vụ, công an cùng với tòa án VGCS đã tận tình “lột truồng” chế độ, bộc lộ thực chất “truổng cời” của một lũ Kangaroo xử án “chồm hổm”, y như “đấu tố” thời “cải cách ruộng đất”. Quanh đi quẩn lại, chế độ VGCS hô hào “đổi mới”, mà tên tuổi cứ là “Nguyễn Y Vân”.

Ba bề bốn bên, tình hình mọi mặt cho thấy chế độ cộng sản vn “sống sót trái mùa” đã mọt ruỗng từ trên xuống dưới, như một thứ lá úa trên cành, chỉ cần một cơn gió nhẹ là rụng xuống. Khi Lòng Dân Đã Quyết, Gió Bão Sẽ Nổi Lên.

Nước Mắt Tây Nguyên

Nhà báo Bùi Tín, khi vui, tâm sự: “Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó.” (Bùi Tín, Hoa xuyên tuyết, 2nd ed. Turpin Press. California: 1994, 42).
Dù đã rào đón (trước) đây chỉ là một cách nói đùa, kiểu đùa cợt của ông – ngó bộ – hơi kỳ, và cũng hơi… quá đáng! Nói nào ngay, ngoài tin thời tiết và tin buồn, cơ quan ngôn luận (chính thức) của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – đôi lúc – cũng loan những tin tức khác, với độ khả tín và khả xác rất cao. Xin đơn cử một thí dụ:

Về số lượng học sinh sắc tộc được tuyển chọn vào đại học, nhật báo Nhân dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã ghi:“Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Đáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.”

Đã có lúc tôi cứ ngỡ đây là con số đại biểu quốc hội, của những nhóm đồng bào sắc tộc, chứ không phải là số lượng “học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào các trường đại học”. Vì nghi ngại có sự “lầm lỗi của ấn công”, tôi đã gửi điện thư đến toasoan@nhandan.org.vn (nhiều lần) để xin xác minh về vấn đề này. Thư cứ đi nhưng tin không lại.

Mãi cho đến mấy hôm gần đây, sau khi đọc bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc, tôi mới biết chắc rằng tin tức mà báo Nhân dân đã loan là (vô cùng) chính xác. Chuyện tôi yêu cầu tòa soạn xác nhận, đính chính, cáo lỗi, hay thanh minh (thanh nga) là việc – rõ ràng, và hoàn toàn – vớ vẩn.

Theo như cách nói của người dân Tây Nguyên thì Nguyên Ngọc là một già làng – trong làng văn và làng báo Việt Nam – với tất cả những đức tính mẫu mực, đáng quý của một người cầm viết: tài năng, uyên bác, đức độ, dũng cảm, và khả tín.

Ông viết: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…” Thế mới biết các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ, Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí… còn may mắn chán. Dân số của họ chắc chắn phải còn hơn tám mươi người. Nếu không, làm sao còn có được một (hay hai) học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học!

Nếu có ai thắc mắc, sao giữa thời đại “bùng nổ nhân số,” nhân loại đẻ đái tùm lum mà ở Việt Nam lại có những sắc dân chỉ còn sót lại vài chục mạng (loe ngoe) như thế… thì xin thưa: đó lại là chuyện khác, dài dòng hơn chút đỉnh. Muốn biết thêm chi tiết, xin vui lòng đọc tiếp – vài đoạn trích dẫn (rút ngắn) từ bài viết rất thấu đáo và cô đọng, dài chừng 30 trang đánh máy khổ 8×11 – của nhà văn Nguyên Ngọc:

“Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

· Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng.

· Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

· Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên…

· Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn… Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.”

Hệ quả, hay nói đúng ra là hậu quả của “hai chủ trương chiến lược” này, vẫn theo nhận xét của Nguyên Ngọc – có những chữ in đậm, như nguyên bản – như sau:

1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…

2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiễm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…

3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.

4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.

5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.

Nguồn: xehoivietnam.com

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có đề cập đến những “lời cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên”, cùng với lời giới thiệu trang trọng:

“Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

‘Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.’

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực!

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.”

Ở góc nhìn của một kẻ hậu sinh (sinh trưởng nơi vùng cao nguyên Lâm Viên) tôi thành thực tin rằng chuyện “tìm một con đường khắc phục những thực trạng khó khăn ở Tây Nguyên” sẽ còn khó khăn hơn nữa, nếu vấn đề vẫn được nhìn theo nhãn quan của những nhà nghiên cứu thuộc Viện Dân Tộc Học – như nhà văn Nguyên Ngọc vừa trích dẫn: “Với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.”

Ủa, chớ quí vị nói đến “kẻ thù” nào vậy cà? Và “kẻ thù,” cũng như “nguy cơ, của ai mới được chớ? Của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của những nguời dân cùng khổ, bất hạnh ở Tây Nguyên?

Coi: đất đai thì mất trắng, môi trường bị tàn phá, văn hoá bị hủy hoại, xóm làng xơ xác tiêu điều, ngơ ngác đói khát trên mảnh đất quê hương ngàn đời của chính mình, không còn lối thoát nào khác nên cuối cùng người dân Tây Nguyên phải nổi dậy. Sau đó, họ bị đàn áp, săn đuổi (và săn đuổi đến cùng) như thú vật giữa rừng hoang – theo như tường thuật của đặc phái viên Nguyễn Khanh, thuộc đài tiếng nói Á châu Tự do, nghe được hôm 4 tháng 5 năm 2004:

“Hiện có một số người Thượng đang lẩn trốn trong rừng sâu ở tỉnh Mondulkiri nằm sát biên giới với Việt Nam. Những người này từ Tây Nguyên băng rừng sang đến Xứ Chùa Tháp hơn 16 tháng trước, tức sau cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo ở Dak Lak và Gia Lai…

Ðiều không mấy ai biết là trước đó vài ngày, công an địa phương cũng đã bắt giữ một số người Thượng, cáo buộc họ hoạt động chính trị, âm mưu lật đổ nhà cầm quyền. Một vài người trong số này may mắn trốn ra khỏi tù và nhanh chân chạy được vào rừng sâu chạy sang Kampuchea…

Ðiều này được chính các viên chức địa phương Cambodia xác nhận, đồng thời nói thêm là phía Hà Nội treo giải thưởng, cứ mỗi người Thượng trao trả lại cho Việt Nam sẽ được thưởng 125 đô la Mỹ. Với phần đông dân chúng Kampuchea thì đây là một số tiền lớn và khoản tiền thưởng này chính là động lực thúc đẩy binh sĩ, cảnh sát Mondulkiri truy lùng những người Thượng đang lẩn trốn trong địa phương của họ.”

Kẻ ở lại thì bị bị “đấu tố” bằng cách ép buộc phải đứng nhận tội trước làng, và những quan chức địa phương, thề phải ngưng liên lạc với người ngoài, và từ bỏ tôn giáo của mình (Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion. – “Vietnam’s Repression of Montagnard”, Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002)

Không lẽ trên đời này còn có loại “kẻ thù” nào khác, tàn ác và đáng sợ hơn thế nữa, hay sao?

Và vì quí vị đã nhắc đến hai chữ “kẻ thù”, tôi cũng xin phép được nói luôn: sống với những người cộng sản Việt Nam thì có bao giờ mà thiếu… kẻ thù, bất kể vào thời bình hay thời chiến. Chỉ có điều khác biệt là vào thời chiến thì họ động viên toàn dân xáp vào để đánh, chỉ còn cái khố cũng (phải) đánh, nhưng đến thời bình thì Đảng và Nhà Nước lại dành độc quyền bắt tay làm hoà (và… làm tiền) với kẻ thù!

Tôi xin lỗi vì nóng giận (và mất bình tĩnh) nên đã đi hơi xa vấn đề cần bàn, chút xíu. Xin được trở lại với bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Nơi phần kết luận, ông đã trích dẫn một câu nói “ để đời” (của nhà dân tộc học Jacques Dournes) khi nghiên cứu về các dân tộc miền núi Nam Đông Dương: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.” [1]

Chính Nguyên Ngọc cũng viết thêm đôi dòng chữ ưu ái và thân ái chí tình, về mảnh đất này: “Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đầy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.”

Thương yêu, hiểu biết, tôn kính, chân thành, tận tụy… – theo như quan niệm nhân bản của Jacques Dournes hay Nguyên Ngọc – đều là những thứ tình cảm (vô cùng) xa xỉ, chưa bao giờ thấy được ở Tây Nguyên, kể từ khi vùng đất này “được hoàn toàn giải phóng.” Xin lược thuật một vài sự kiện chính, để thấy lòng dạ “chân thành” hay “tôn kính” của những quan chức cộng sản nơi vùng sơn cước, cũng như tâm tình (chán ngán) của người dân bản địa đối với Nhà nước – ra sao?

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin nhà đương cuộc Hà Nội đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dac Lak. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lạng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Dac Lak – đã lắc đầu quầy quậy: “Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây. Không, tuyệt đối là không có…” (There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not… – theo như tường thuật của AFP, vào ngày 6 tháng 9 năm 2002, “Demonstrators Arrested in Vietnam’s Central Highlands”).

Tưởng ai xa lạ, chớ ông Lạng thì tôi đã có lần nhìn thấy hình trên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn, về những biến động xẩy ra ở Dac Lak – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lạng cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ (thản nhiên) tương tự: “Ðấy chả qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!”

Cái được ông Nguyễn Văn Lạng mô tả là “những vụ cãi vã giản dị… giữa hai ngôi làng”, theo như những nguồn tin đáng tin cậy khác, gồm “nhiều ngàn nông dân đã xử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của Ðảng Cộng sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai (Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use, theo như tường thuật của Mark Mc Donald [từ Việt Nam] qua bài báo “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones”, San Jose Mercury News, 26 Feb 2001, A10).

Sau đó, ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã sử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào “những vụ cãi vã giản dị” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Theo lời bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, đọc được tên báo Nhân dân – số ra ngày 7 tháng 3 năm 2002 – đây là những kẻ “do bị kích động, lừa gạt nên đã vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia”. Một tuần lễ sau, hôm 13 tháng 3 năm 2002, khi được hỏi về thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người này, bà Phan Thúy Thanh đã nói với phóng viên David Brunstrom của hãng thông tấn Reuters rằng “thật đáng tiếc là chỉ có 15 người dân thuộc sắc tộc thiểu số từ Cam Bốt đã được Cao uỷ Tị nạn giao trả lại cho Việt Nam, mặc dù hầu hết họ đều có ‘khát vọng nóng bỏng’ được hồi hương” (‘the burning desire’ of most of them to come back.).”

Bà Thanh, rõ ràng, nói láo! Sự thực, khi được cho phép định cư ở một quốc gia đệ tam, không một ai trong số 905 người Thượng tị nạn tại Cao Miên đã thực hiện “cái khát vọng nóng bỏng được hồi hương” – như bà Thanh đã bịa đặt ra như vậy. Tất cả đều đã xin tị nạn và đã được phép định cư ở Hoa Kỳ, từ tháng 6 năm 2002.

Mấy năm sau, vào ngày 10 tháng 4 năm 2004, một cuộc biểu tình vĩ đại khác diễn ra tại Tây Nguyên. Lại đàn áp, trốn chạy, thương tích, tử vong…, không khác gì lần trước. Và cũng như lần trước, khi bị chất vấn về con số thương vong của người thiểu số, ông Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao – người kế nhiệm bà Thanh – cũng đã lắc đầu nguây nguẩy là “hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống của Nhà nước CHXHCNVN thì (ta) cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt, chối hết – là kể như… xong chuyện, và hết chuyện! Truyền thống này, tiếc thay, hơi khó giữ vào thời đại thông tin.

Bởi vậy, mấy bữa sau, ngày 17 tháng 4 năm 2004, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc – đành phải miễn cưỡng nhận rằng: “Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau.”

Ý, giàng ơi! Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang rồi “ném đá vào nhau” và “ẩu đả lẫn nhau” cho… tới chết luôn – như vậy, hả trời? Nói (đại) như vậy mà nói được sao, cha nội? Cũng như bà Thanh, và ông Dũng, thằng chả – rõ ràng – cũng nói láo như… ranh. Thiệt là thầy chạy!

Mà người dân miền núi thì không quen dối trá. Họ không thể tiếp tục sống mãi với những kẻ (cứ mở mồm ra là) nói láo xoen xoét như thế. Bởi thế, sau khi trốn thoát được đến Cao Miên, theo tường thuật của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2004, ông Ralampee – một người tị nạn từ Tây Nguyên – đã nói với phóng viên của hãng tin Reuters rằng: “Tôi thà chết ở đây, chứ không trở lại Việt Nam và chết ở nơi đó (I would be happy to die right here, rather than go back to Vietnam and die there).”

Ông Ralampee không phải là người đầu tiên, cũng không phải là kẻ cuối cùng (hay duy nhất) đã bầy tỏ một thái độ quyết liệt như vậy. Có hàng trăm ngàn người dân miền núi, và hàng triệu đồng bào của họ ở miền xuôi, cũng đã dùng đến sinh mạng của mình để bỏ phiếu (bằng chân hoặc bằng thuyền) theo phương cách tương tự.

Tai hoạ mà cộng sản mang lại đâu chỉ giới hạn ở Tây Nguyên. Hãy đọc lại, một lần nữa, những vấn đề mà nhà văn Nguyên Ngọc vừa nêu xem. Xin vẫn được in đậm, theo nguyên bản:

1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn;

2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên;

3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng;

4. Người bản địa bị mất đất;

5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Chớ có cái làng quê nào ở miền Bắc mà không “tan vỡ”, sau Cải cách Ruộng đất? Có dòng sông nào, khu rừng nào – xuyên suốt cả hai miền đất nước – không bị ô nhiễm, tàn phá, hủy hoại chứ đâu có riêng chi môi trường ở Tây Nguyên?

Dù chính sách hợp tác xã nông nghiệp không được thực thi ở miền Nam, chủ trương xây dựng lâm trường và nông trường cũng khiến cho vô số người dân miền xuôi mất trắng đất hết đai. “Tiếng kêu giữa rừng U Minh Hạ” (được ghi lại bởi phóng viên Hoàng Trí Dũng, đọc được trên Tuổi Trẻ Online, vào ngày 18 tháng 9 năm 2005) nghe cũng ai oán, và thảm thiết đâu có khác gì tiếng nấc của núi rừng ở Tây Nguyên:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tôi bị ‘sốc’ như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…

Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

[...]

Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện…”

Tương tự, “văn hóa bị mai một” hay suy đồi là “tình trạng chung của cả nước,” chớ đâu có riêng chi ở Tây Nguyên! Tôi cũng chả thấy có sự dị biệt nào giữa hai cuộc biểu tình của dân chúng ở Tây Nguyên, với những cuộc biểu tình ở các tỉnh đồng bằng: Thái Bình, Đông An, Nam Hà, Nghệ An, Trà Cổ… Tựu trung, đó chỉ là những phản ứng tự nhiên của những người dân chân chất – khi bị dồn đến chân tường, thế thôi.

Và tôi e rằng đa số người dân đã bị dồn đến chân tường rồi. Trước tình trạng này những đề nghị phát triển , hay “phát triển bền vững”, đều bất khả thi. Kinh nghiệm của nạn nhân cộng sản, ở những quốc gia khác, cho thấy là thể chế này chỉ có thể thay thế chứ không thể nào thay đổi được

Còn làm thế nào thay thế được nó thì (sorry) tôi không biết. Và đây, chắc chắn, cũng không phải là “chuyện riêng” của người dân miền núi chúng tôi. Tây Nguyên, nghĩ cho cùng, chỉ là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ, với những nét khắc khốc liệt và tàn bạo hơn (đôi chút) thế thôi.

K’Tien

[1]Jacques Dournes còn có bút danh là Dam Bo, tác giả công trình nghiên cứu Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương, được giới thiệu vào đầu năm 1950, trên Tạp chí Pháp – Á (France-Asie 49-50 Numero Special Consacre aux Populations Montagnardes du Sud-Indochinois: Saigon,1950) và đã được chuyển dịch là Miền Đất Huyền Ảo, một cách hết sức gẫy gọn và tài hoa bởi nhà văn Nguyên Ngọc.

Gia đình TS Luật Cù Huy Hà Vũ: Đơn xin bản sao bản án và nhận thư (lần 3)

Kính thưa Quý Báo,

Hôm nay gia đình TS Cù Huy Hà Vũ đã nhận được từ chối cấp bản sao bản án ngày 4/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nôi. Vợ TS Vũ tiếp tục gửi đơn thứ 3 đòi lá thư của chồng gửi từ Trại tạm giam ra. Tôi kính mong Quý báo cho đăng thông tin để những ai quan tâm tới vụ án “Cù Huy Hà Vũ tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” được rõ.
Trân trọng cảm ơn Quý Báo,
Cù Thị Xuân Bích

“Bắt tàu Trung Quốc!?” “Không đưa tin…” cũng phải!

Ngư tặc Cộng Tầu vẫn nhập biên
Ung dung bắt cá rất ngang nhiên
Trong lòng Vẹm nín câm nhường nhịn
Ngoài mõm đảng tuôn giọng chủ quyền
Bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ
Thị oai năn nỉ, chước ưu tiên
“Xua ra hải phận, lập biên bản!”
Lối nói lấp che thói nhục hèn!

Theo:

Nguồn : Mai Thanh Hải Blog

Tin phản ánh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) bắt tàu Trung Quốc nhưng… không dám đưa tin:

“Ngày 29-4, Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Bình cho biết, thời gian qua, có nhiều tàu thuyền nước ngoài vi phạm đánh bắt cá trên vùng biển nước ta. Gần đây nhất, ngày 27-4-2011, Hải đội 2, BĐBP Quảng Bình nhận được nguồn tin của ngư dân đi biển phản ánh, có một số tàu đánh cá của ngư dân Trung Quốc vi phạm đánh bắt cá trái phép trong vùng biển nước ta thuộc địa phận vùng biển Quảng Bình.

Ngay lập tức Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Bình điều tàu BP 071202 cùng cán bộ, chiến sĩ hải đội 2 xuất kích làm nhiệm vụ. Đến toạ độ 17 độ 36 phút kinh đông, 106 độ 58 phút vĩ độ bắc thuộc vùng biển Quảng Bình, tổ công tác phát hiện có 3 tàu, 8 thuyền câu mang ký hiệu Trung Quốc cùng 18 ngư dân đang đánh bắt cá trái phép. Tổ Công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm tàu và ngư dân Trung Quốc.

Xét thấy mức độ sự việc, tổ công tác đã tiến hành phóng thích người và phương tiện ra khỏi lãnh hải nước ta.

Trước đó, Hải đội 2 BĐBP Quảng Bình cũng đã lập biên bản phóng thích 2 tàu khác và xua đuổi khỏi lãnh hải nước ta 3 tàu mang ký hiệu Trung Quốc.” (Blog MTH)

*

Đó là bản tin do một “Phóng viên của một tờ Báo Đảng rất lớn, nằm thường trú tại khu vực miền Trung” được “Bộ đội Biên phòng cung cấp tin bắt giữ tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, khai thác thủy sản trái phép trong vùng biển Việt Nam”

Theo ký giả nầy thì đã gần một tuần lễ mà không báo nào dám đăng tin, ký giả cũng cho rằng Bộ đội biên phòng đã “can đảm” gọi thẳng là “tàu Trung Quốc” chứ không còn là “tàu lạ, tàu quen” như trước đây! Ký giả cũng cho rằng: “Bộ đội mình thì mạnh mẽ, cương quyết thế. Sao báo chí mình lại cứ sợ, cứ hèn”

Không riêng đối với VN, ngư tặc Tầu Cộng cũng ngang nhiên xâm phạm hải phận Nhật Bản và Nam Hàn để đánh cướp cá khi bị lực lượng hải quân Nhật, Nam Hàn ngăn chặn bọn ngư tặc nầy còn hung hăng chống trả và chúng đã bị hải quân các nước sở tại trừng trị.

Bộ đội biên phòng Việt Cộng nói “tiến hành lập biên bản vi phạm tàu và ngư dân Trung Quốc” là dối láo! Vì “Xét thấy mức độ sự việc, tổ công tác đã tiến hành phóng thích người và phương tiện ra khỏi lãnh hải nước ta!”

Thế mà gọi là “Bắt tàu Trung Quốc!” Hay chỉ là “Xin mời các bố đàn anh ra khỏi hải phận cho chúng con nhờ!” Thế nào là “mức độ sự việc?” Là các bố đã đánh bắt đầy tàu rồi mời về đi thôi! Có dám “xua đuổi” bọn ngư tặc Tầu Cộng hung hãn kia không?

Những tên chủ báo của đảng chắc chắn đã hỏi ý cấp trên và nhận được chỉ thị phải “ém nhẹm” Hơn nữa nếu đăng bản tin trên lại lòi đuôi “anh hùng” của bộ đội biên phòng, rồi thiên triều lại hạch xách trung ương đảng nữa, phiền hà thêm chứ ích gì?

Còn đối với dân chúng trong nước, cũng cuối tháng Tư, đồng bào Mường Nhé biểu tình ôn hòa đòi tự do tôn giáo, phản đối chính quyền cướp đất thì bộ đội Nhân dân đem cả trực thăng đến đàn áp, hạ sát hàng chục người, bắt bớ không biết bao nhiêu người nữa?

Ngư tặc Tầu Cộng xâm phạm hải phận thì “xét thấy mức độ” để “tiến hành phóng thích” . Với đồng bào ôn hòa đòi hỏi thì bị gán tôi “mê tín, đòi tự trị…” để bắn giết!

Công an và bộ đội địa phương Mường Nhé và cả tỉnh Điện Biên không đủ trấn áp hàng ngàn người dân biểu tình, hơn nữa có lẽ bọn nầy cũng không nỡ thẳng tay tàn ác đối với đồng bào cùng sắc tộc với chúng, nên Hà Nội đã điều động bộ đội các nơi khác, nhất là chúng đã thuê mướn bộ đội Cộng phỉ Lào, vốn có thù hận với người H’ Mông, chúng đã xuống tay tàn bạo.

Bọn khủng bố VC đã áp dụng bài học dùng quân đội đàn áp Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình!

Nghĩ về Tự Do

Thời hoang sơ, thuở loài người còn ăn lông ở lỗ ,chưa bị phong tục tập quán,thuần phong mỹ tuc,giáo dục ,luật pháp chi phối và sống đời sống hoàn toàn tư do. Họ tự do lang thang giữa núi rừng trùng điệp , giữa biển cát sa mạc mênh mông , tự do vui sống ,chiêm ngưỡng cảnh hùng vĩ của thiên thiên , tự do săn mồi hái trái từ thực vật , động vật đến thủy hải sản và tự do gây chiến ,cướp bóc ,chiếm đoạt tài sản vật chất kể cả con người làm của riêng.

Cuộc sống tự do của loài người nguyên thuỷ kéo dài hàng vạn năm và bắt đầu bị giới hạn do nhu cầu phát triển cộng đồng, xã hội và quốc gia bởi luật lệ, cùng với ý thức thiện –ác, tốt -xấu làm thay đổi nếp sống tự do hoang dã man dại, mạnh được yếu thua của loài người. Cũng chính từ đó tư do ngày càng bị giới hạn do pháp lệnh , do tà dục của giai cấp thống trị áp chế lên tầng lớp bị trị ,cứ thế tuần tư diễn ra…diễn ra cho đến lúc tầng lớp bị trị , hoàn toàn mất tự do, trở thành thân phận nông nô trong các lãnh địa quân chủ phong kiến Âu Châu và biến thành nô lệ cho tầng lớp tư bản hoang dã trong thời cách mạng kỹ nghệ Âu Châu.

Đứng trước khủng hoảng ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của loài người, nhiều tư tuởng khai sáng, tiến bô tích cực ra đời nhằm giải phóng,thay đổi những cuộc đời, những thân phận nông nô ,nô lệ và phục hồi nhân phẩm ,nhân quyền với đầy đủ các quyền mà con người sinh ra đều được hưởng cùng lúc tạo ra cơ hội ,bình đẳng cho mọi nguời sống chung trong cộng đồng ,xã hội và quốc gia.

Từ tư tưởng khai sáng có ý thức của trí tuệ giúp tự do của loài người được tái lập,mở rộng đường cho nhu cầu phát triển xã hội của thời đại kỹ nghệ và trong cuộc vận động, giải phóng, thay đổi này đã tập trung vào ba loại tự do nền tảng : tư do cá nhân , tự do chính trị và tự do kinh tế.

1) Tự do cá nhân được phục hồi trong thời kỳ này được hiểu như tự do lựa chọn cách sống ,tự do tín ngưỡng, tự do lựa chọn ngành nghề và tự do lựa chọn người bạn đời cho mọi người sống chung trong cộng đồng xã hội, quốc gia.

2) Tự do chính trị được công nhận là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tham gia thiết lập chính quyền hiến định, tự do cho công dân trưởng thành bầu chọn người đại diện tham gia chính quyền hoặc tự thân tham gia chính quyền.

3) Tự do kinh tế đầu tiên được diễn giải như là tự do điều hành kinh tế, tự do theo đuổi quyền lợi riêng tư, tư do kinh doanh, tự do sản xuất , tự do sở hữu tư sản gồm động sản cũng như bất động sản.

Vào thời kỳ đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức của gia cấp thống trị, để tái lập con người tự do, khởi đầu từ tự do cá nhân ,tự do chính trị và tự do kinh tế. Trong ba loại tự do, thiết nghĩ tự do cá nhân là ưu tiên hàng đầu của đấu tranh , bởi tự do cá nhân chính là tự do khởi nguồn của mọi tự do. Vì thế trong đấu tranh , các nhà đấu tranh đã đòi hỏi nhà cầm quyền phải hành động, phải tháo gỡ chướng ngại ,bế tắc để người dân, để con người được vui hưởng tư do, mưu cầu hạnh phúc và tự do cá nhân là căn nguyên tự do của con người tự do.

Nhìn lại diễn biến tư do trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, khiến những ai có lòng với đất nước, con người VN không khỏi phải ngậm ngùi cho thân phận con sâu, cái kiến của con người VN sống trong đất nước CHXHCNVN.

Đến hôm nay nhân loại bước sang thế kỷ 21, dân tộc ta đã đổ biết bao xương máu cho tư do nhưng vẫn chưa hít thở được khí trời tự do. Dân tộc ta vẫn còn oằn mình dưới ách cai tri khắc nghiệt , độc ác ,bất công của chính tập đoàn thống trị cùng màu da, màu mắt và cùng tiếng nói như mình. Ôi, đau xót nào hơn!

Để tái lập trật tự, định hướng phát triển tương lai, giải phóng tư tưởng nô lệ, con người nô lệ và thân phận nông nô, những bộ óc vĩ đại của nhân loại đã mở đường khai lối cho loài người tìm về tự do với nhận thức, ý thức tự do mang đậm tính nhân bản của trí tuệ. Thế nhưng tầng lớp thống trị ,nhà cầm quyền công sản VN đã đi ngược chiều tiến hoá tự do của nhân loại. Họ khôi phục thứ tự do hoang dã man dại của thời ăn lông ở lỗ, thuở loài người săn bắt ăn thịt lẫn nhau, thứ tự do mạnh được yếu thua , công lý thuộc về kẻ mạnh.

Thứ tự do đó, nhan nhản trước mắt hằng ngày, tự do cướp đất nông dân, tự do cấu kết với tài phiệt quốc tế bóc lột sức lao động công nhân, tự do ngụy tạo chứng cứ, thay đổi chứng cứ nhằm kết án người dân thấp cổ bé miệng , tự do tham nhũng, hối lộ, buôn đất rừng, bán biển đảo của tổ tiên, tự do rút ruột công trình, ăn cắp của công làm của riêng ,tự do bắt người tùy tiện, tự do giết người có bảo kê của công an, cảnh sát, tự do bịt miệng những người dân hiểu biết quý trọng giá trị của tự do.

Đó chỉ là mảng nhỏ tư do của độc tài đảng trị CSVN, mà người dân ai cũng nhìn thấy,biết , kể cả ông già bà lão đến em bé học trường mầm non. Còn nhiều, rất nhiều mảng “tự do” lẩn khuất bên trong chế độ không tiện kể ra, vì e rằng phạm tội tuyên truyền chống phá nhà nước, nói xấu lãnh đạo nói xấu đảng nhà nước, cấu kết với các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân ?!

Tự do nhân loại hướng tới là tư do nhân bản, văn minh có ý thức của trí tuệ, tự do bày tỏ chính kiến, tự do phản kháng bất công ,tự do yêu sự thật lên án dối trá, tự do sống vì người, vì lợi ích chung của mọi người , tự do làm cách mạng lật đổ giai cấp thống trị tàn dân hại nước, đi ngược ý chí, nguyện vọng của toàn dân. Đây mới chính là giá trị đích thực của tự do mà loài người mong đợi, phải trả giá máu và mạng sống chính mình, chứ không phải thứ tư do hoang dã man dại của thời người tự do “săn giết người”trong thời hiện đại dưới sự lãnh đạo đươc gọi là “sáng suốt” của đảng cộng sản Việt Nam !?

Người Thượng Nổi Dậy Nữa

Đồng bào Thượng nổi dậy nữa, đông đảo hơn, dài ngày hơn. Nhậy cảm hơn, ngay tại vùng và gần ngày CS kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ gồm thâu Miền Bắc trong thập niên 1950 và đúng ngay ngày 30 tháng 4 CS gồm thâu Miền Nam trong thập niên 1970.
Theo nhận định của thông tấn xã Pháp AFP, có lẽ đây là cuộc biểu tình phản đối nhà cầm quyền nghiêm trọng nhất của các sắc dân thiểu số tại Việt Nam, từ sau phong trào nổi dậy rầm rộ trong hai năm 2001 và 2004 của các sắc tộc thiểu số tại vùng Cao Nguyên Trung phần Việt Nam. Lúc bấy giờ, người Thượng nổi dậy tràn ra quốc lộ. Nhà cầm quyền CS Hà nội đã dùng quân đội có cả trực thăng võ trang yễm trợ để mạnh tay trấn áp khiến cho khoảng 1.700 người Thượng đã phải chạy qua lánh nạn tại Cam Bốt và được Mỹ giúp tỵ nạn CS, cho định cư ở Mỹ.

Còn hơn hai kỳ trước, kỳ này CS Hà nội qua lịnh của Tướng Trần Quang Khuê, Tham mưu trưởng Quân đội VNCS, quân đội VNCS và quân đội Lào Cộng đã được điều động tới khu vực Điện Biên từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 5.

Theo nguồn tin rất phổ thông của một tổ chức Mỹ đấu tranh cho quyền lợi người Thượng thiểu số ở VN, Center for Public Policy Analysis, ra thông cáo báo chí cho biết CS Hà nội đã dùng quân lực đàn áp, đã làm ít nhất 28 người Hmong chết, 33 bị thương và hàng 100 người mất tích.

Được biết theo Ngân Hàng Thế Giới gần đây cho biết, VN có khoảng 53 sắc tộc thiểu số, tổng cộng khoảng 10 triệu người; trong đó có gần 790.000 người Hmong. Người Hmong ở Điện Biên có thể có quan hệ mật thiết với người Hmong ở Lào. Đa số người Hmong theo Tin Lành trong trào lưu chung như người nhiều sắc tộc thiểu số tại Cao nguyên miền Trung Việt Nam.

Từ khi CS Hà nội gồm thâu được cả nước Việt Nam, đồng bào Thượng là thành phần sắc tộc thiểu số của dân chúng Việt Nam nhưng lại là thành phần dân chúng nổi dậy đông đảo nhứt.

Trong lãnh thổ cũ của VNCH, Cao Nguyên Trung Phần, đồng bào Thượng nổi dậy hai lần, năm 2001và 2004. Cả hai lần CS Hà nội phải “điều” quân đội ở nơi khác đến tiếp ứng cho địa phương, với trực thăng, phi cơ rầm rộ. Và đối với Mỹ số đồng bào Thượng nổi dậy trong hai năm 2001 và 2004 là số người Mỹ nhận cho tỵ nạn CS đông nhứt ở Mỹ từ sau cuộc nhận số người Việt vượt biên bằng thuyền nang vượt đại dương gọi là thuyền nhân cho định cư ở Mỹ.

Cuộc nổi dậy của đồng bào Thượng lần thứ ba ở Việt Nam và lần thứ nhứt ở Miền Bắc tại vùng Điện Biên Phủ, giáp giới Lào và Trung Quốc. Gần gũi với vùng quần cư của người Hmong của Lào là thành phần sắc tộc đã cộng tác rất thân với Mỹ với Tướng Van Pao là một thần tượng vừa mới qua đời ở Mỹ. Số người Hmong còn kẹt lại ở L:ào tiếp tục chiến đấu hay sống trong rừng sâu chống không trình diện với CS. Báo chí Mỹ thường nói về số người Hmong chống Cộng trung kiên này ở VN và Lào.

Số người nổi dậy từ 5 đến 7 ngàn. Kéo dài nhiều ngày, từ 30-4 đến 5 ngày sau tin tức lọt ra ngoài nhiều, vẫn còn tiếp diễn với vài ngàn người. Công an và quân đội địa phương trấn áp không nổi, Hà nội phải điều quân vào tiếp viện.

Về đề tài tranh đấu của người Hmong Miền Bắc không khác lắm với hai kỳ trước ở Miền Nam. Theo nhận định của hãng tin Anh Reuters, quân đội của CS Hà nội dùng võ lực giải tán người Hmong biểu tình tại Điện Biên đã đòi quyền được thành lập vùng tự trị và quyền tự do tôn giáo.

CS Hà nội tố giác qua bản tin của thông tấn xã của CS Hà nội trích lời Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên, nói những “thành phần xấu” đã lợi dụng việc nhiều người tụ tập ở Mường Nhé để kích động đòi thành lập “vương quốc” riêng của người Hmong. Luận điệu này CS Hà nội cũng đã dùng chụp mũ đồng bào Thượng ở Cao Nguyên Trung Phần, cáo buộc là người Thượng đòi lập nước Dega.

Chữ “đồng bào Thượng” là danh từ người Việt Nam Cộng Hoà gọi người Việt gốc dân tộc thiểu số ở Cao Nguyên Trung phần VN. VNCH có luật dành riêng cho Đồng bào Thượng, ai học trường luật Saigon đều biết Giáo sư Thành là giáo sư chủ nhiệm môn học này. Luật Đồng Bào Thượng này tôn trọng phong tục tập quán của các sắc tộc thiểu số này.

Và trong chánh phủ có Bộ Sắc Tộc mà Bộ Trưởng là người sắc tộc chánh tông. Quốc Hội có một số ghế dành riêng cho đồng bào thiểu số như đồng bào Thượng ở Tây Nguyên Trung phần,Việt gốc Miên ở Miền Tây Nam Phần. Các trường chuyên nghiệp cao cấp như Quốc Gia Hành Chánh có dành nhiều ưu đãi cho đồng bào Thượng như hạ bằng cấp đòi hỏi, hạ điểm đậu cho thí sinh gốc đồng bào Thượng.

Nhờ thế dù thực dân Pháp dùng chánh sách chia để trị và CS Hà nội gây mâu thuẩn để đồng bào Thượng chống VNCH, âm mưu ấy thất bại. Thất bại kề cả trong việc dùng đồng bào Thượng ở biên giới làm đầu cầu xâm nhập VNCH cũng thất bại. Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà được nhiều sắc tộc đồng bào Thượng ủng hộ, tình nguyện vào làm quân nhân, trong đó người Hmong tham dự rất nhiều.

Cơ quan Hoàn Cầu Khải Tượng một tổ chức của Tin Lành Mỹ, trụ sở gần sát vách với Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon tập trung nỗ lực truyền đạo trong hàng ngũ đồng bào Thượng. Phải nói tương quan, gắn bó của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và của Tin Lành Mỹ với đồng bào Thượng ở Cao Nguyên rất sâu sắc.

Cuộc nổi dậy của đồng bào Thượng kỳ này qui mô và đông đảo hơn. Nó xảy ra trong lúc làn sóng cách mạng Hoa Lài ở Trung Đông và Bắc Phì lan sang các nước độc tài CS Trung Cộng và Việt Cộng. Hai chế độ này đang lo quính quáng lên, sợ làn sóng cách mạng đó dân chúng sẽ biến thành cách mạng mùa xuân. CS Bắc Kinh và Hà nội tổ chức đánh phá nghiệt ngã, “ý đồ” diệt trong trứng nước.

Ai dè một vấn đề khó nuốt nhứt lại xảy ra cho CS Hà nội. Vấn đề thiểu số là nhậy cảm nhứt với quốc tế. Vấn đề dùng quân lực bắn giết dân biều tình là tội phạm chống nhân loại như Gadhafi đang bị Liên hiệp Quốc trừng trị. Đồng bào Thượng đại đa số theo đạo Tin Lành ở VN bị CS đàn áp làm người Mỹ nhức nhối vì Tin Lành là đạo nhiều người Mỹ theo nhứt.

Nên người ta không thấy lạï khi chánh quyền Mỹ đã nhận cho định cư số người Thượng di tản sang Miên sau cuộc nổi dậy ở Cao Nguyên Trung Phần. Và trong cuộc nổi dậy ở Điện biên Phủ này, Mỹ là nước can thiệp nhanh và mạnh nhứt, đầu tiên nhứt. Hầu hết truyền thông quốc tế loan tin ngày 6 tháng 5, Toà Đại sứ Mỹ ở Hà Nội ra thông cáo nói đang điều tra nội vụ và “kêu gọi các bên liên quan không sử dụng bạo lực, giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình và theo đúng luật pháp Việt Nam cũng như các tiêu chuẩn nhân quyền đã được quốc tế công nhận”./.

Người với người, còn hơn cả loài thú dữ



Lưng nạn nhân Lữ Văn Tới đầy dấu vết của 4 giờ chịu đựng nhục hình.




Ngày 3 tháng 5, anh Lữ Văn Tới, là công nhân làm thuê cho một cơ sở khai thác quặng thiếc ở Khe Hao, xã Tân Hợp (huyện Tân Kỳ, Nghệ An) bị chủ mỏ đánh đập dã man suốt mấy tiếng đồng hồ vì nghi trộm quặng thiếc. “Cách tra khảo của chủ mỏ quặng như ở thời trung cổ: Dùng cây có gai đánh vào lưng cho tóe máu rồi tưới mắm, xát muối vào vết thương, dìm nước…” (Báo Pháp luật ở Sài Gòn ngày 7 tháng 5).

Những bức hình đăng trên các báo cho thấy khắp người nạn nhân, nhất là lưng và mông, bị bầm tím đen.

Lại nhớ đến vụ hai vợ chồng chủ đầm tôm hành hạ em bé làm thuê Hào Anh xôn xao dư luận năm 2010. Nào dùng cây dầm đánh, dí bàn ủi, sắt nung vào người, dùng kìm bẻ răng, cắt môi… và rất nhiều kiểu “sáng tạo” khác khiến em bị thương tật 66.83%. Hay trước đó, năm 2007, hai vợ chồng một tiệm phở 14 năm hành hạ người làm công, em Nguyễn Thị Bình, bằng dây điện, gậy gỗ và kìm kẹp, v.v. Sự tàn ác giữa con người với con người, tưởng chỉ có ở thời trung cổ hay chế độ nô lệ, vậy mà nó lại đang diễn ra trong xã hội Việt Nam bây giờ.

Ngày càng nhiều những vụ án mạng với những tình tiết lạnh người như trong phim ảnh. Tối 29 tháng 4, ngay giữa Hà Nội, một nhóm thanh niên đi xe máy đuổi theo một chiếc taxi, “bắn xuyên qua cửa kính khiến tài xế bị thương, chiếc xe loạng choạng, đâm vào lề đường. Cô gái cũng bị nhóm đi xe máy dùng dao truy sát, chúng đập vỡ cửa kính giơ súng nhắm thẳng mặt bắn. Nạn nhân gục xuống tại chỗ.” (Bee.net.vn ngày 29.4).

Chiều 5 tháng 5, tại Hải Phòng, lại hai thanh niên đi xe máy đuổi theo hai thanh niên khác, tay súng ngồi sau đã nã súng vào bụng một người khiến nạn nhân phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch.

Tối 6 tháng 5, giám đốc một công ty kinh doanh sắt-thép-xà gồ bị một trong những tay côn đồ trước đó kéo đến cơ sở đập phá, rút súng chĩa thẳng vào ngực bắn chết. Ngôi nhà mặt tiền nằm ngay trên Ðại lộ Bình Dương.

Cả ba vụ này đều giống nhau ở điểm những kẻ sát nhân ra tay một cách lạnh lùng, cố tình bắn cho chết, vụ việc xảy ra ngay giữa những thành phố đông người.

Những câu chuyện bạo lực, những vụ án mạng dã man không còn là chuyện hiếm trong xã hội Việt Nam. Khi con người ngày càng đối xử với đồng loại một cách tàn nhẫn hơn thì điều đó không chỉ nói lên sự xuống cấp của đạo đức xã hội, sự bất lực của giáo dục và luật pháp. Mà nó còn phản ánh nỗi bức xúc, những mâu thuẫn xã hội bị dồn nén bên trong cũng như sự đổ vỡ niềm tin vào cái thiện, vào sự tử tế của mỗi con người.

Dư luận quốc tế chả là cái “đinh” gì!

Tuần qua, báo chí “lề trái” và dư luận quốc tế lại nóng lên với vụ bắt giữ nhà thơ Bùi Chát, đồng sáng lập viên NXB Giấy Vụn. Ðó là ngày 30 tháng 4, khi anh vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất sau chuyến đi lãnh giải thưởng Tự Do Xuất Bản của Hiệp Hội Xuất Bản Quốc Tế (IPA).

Trả lời đài RFA, ông Alexis Krikorian, giám đốc của IPA đã nói: “Thực sự đây là một tình huống tệ hại nhất. Chúng tôi đã trao giải Tự Do Xuất Bản nhiều năm nay rồi, nhưng nay là lần đầu tiên một chính quyền sở tại cho bắt giữ người được trao giải khi trở về lại đất nước của người ấy. Vì vậy ở một mức độ nào đó, chúng tôi thấy ngạc nhiên…

Nhiều người đã được trao giải này trước ông Bùi Chát, những người đó sống tại những quốc gia như Zimbabuê, Iran… Và tất cả họ, tôi nhấn mạnh là tất cả những người đó, khi trở về quê nhà sau khi nhận được giải thưởng Tự Do Xuất Bản không hề bị bắt bớ.” (“VN và ngày tự do báo chí toàn cầu”, RFA)

Cho dù sau đó Bùi Chát đã được tạm thả, nhưng sau hàng loạt những vụ việc không giống ai như phiên tòa Cù Huy Hà Vũ hay vụ Bùi Chát, Việt Nam nay đã vượt qua nhiều quốc gia độc tài khác trong cách hành xử với nhân dân bất chấp quốc tế nghĩ gì!

Và cuối cùng là sự kiện hàng ngàn người Hmong biểu tình, bạo động tại huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên từ ngày 30 tháng 4. Khi chuyện xảy ra, nhà nước Việt Nam lập tức cô lập khu vực Mường Nhé, không cho báo chí trong và ngoài nước đến đưa tin, điều quân đội và trực thăng đến đàn áp… Sau đó Thông Tấn Xã Việt Nam và các báo quốc doanh mới được đưa tin cùng một giọng xuyên tạc tình hình cũng như mục đích biểu tình của người dân Hmong, v.v.

Không ai có thể thực sự biết chuyện gì đang xảy ra cũng như chính xác con số bao nhiêu người bị chết, bị thương hay bị bắt. Cũng như khi xảy ra vụ bạo động ở Tây Nguyên năm 2004, người dân sống ở trong nước chẳng mấy ai biết điều gì.

Thực sự, đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam không hẳn đã là quốc gia độc tài duy nhất “vinh dự chiếm giải kịch bản” về cách ứng xử trước những cuộc bạo động đòi tự trị, tự do tôn giáo của các sắc dân thiểu số. Ít nhất là họ học theo y chang cách hành xử của đảng và nhà nước Cộng Sản Trung Quốc qua những vụ bạo động ở Tân Cương, Tây Tạng. Từ sự thẳng tay đàn áp, cách bưng bít thông tin cho đến sự dối trá trước dư luận quốc tế.

Ðiều đáng nói ở đây là nếu như Trung Quốc ỷ nước lớn, dân đông, tiền nhiều nên không sợ dư luận quốc tế phần nào còn hiểu được. Còn Việt Nam -đang kinh tế lao đao, thân cô thế cô chống đỡ âm mưu bành trướng của Trung Quốc mà lại chơi “không giống ai”. Vụ bắt giữ Bùi Chát thì xảy ra ngay trước ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Còn vụ đàn áp người Hmong thì ngay giữa thời điểm Việt Nam đang có nguy cơ bị chính phủ Hoa Kỳ đưa trở lại vào danh sách các nước cần phải quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Có nghĩa là nhà nước Việt Nam tự làm khó mình.

Thế mới gọi là có tầm nhìn, tư duy chính trị sâu rộng, có đối sách ngoại giao khéo léo… kiểu Việt Nam! Thế mới gọi là những “chuyện chỉ có ở Việt Nam”!

Đang Đợi Nguyễn Anh Tuấn2 Xuất Hiện

Đúng 2 tuần lễ trôi qua, kể từ ngày sinh viên Nguyễn Anh Tuấn viết Đơn Tự Thú. Việc làm của chế độ Nguyễn Tấn Dũng, đơn giản, “một là bắt sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, hai là phải trả tự do cho TS Cù Huy Hà Vũ”, vì cả hai đều đã vi phạm vào Điều 88 (tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN), nhưng không, chế độ Dũng lại chơi cái màn tình lờ, có nghĩa là câu giờ, để lâu, chẳng ai nhắc nhở, rồi mọi việc sẽ chìm vào quên lãng, gọi là cho chìm xuồng. Vì sự lựa chọn nào cũng không hay: bắt Tuấn lại sợ bị rơi vào bẫy sập, còn thả Vũ có nghĩa vô hiệu hóa Điều 88.

Cho chìm xuồng lá Đơn Tự Thú của Tuấn là cách hành xử vô cùng hèn hạ của chế độ Nguyễn Tấn Dũng. Một chế độ rất đáng bị người dân khinh bỉ, phỉ nhổ nước bọt vào mặt của Nguyễn Tấn Dũng. Vì Điều 52 của bản Hiến Pháp đã ghi rõ “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, có nghĩa “luật pháp bất vị thân”, dù tiến sỹ, sinh viên, thủ tướng… khi phạm tội đều bị xử công bằng như nhau.

Ở đất nước người ta, làm thủ tướng, được coi như chức vụ đại diện cho dân, phải biết đương đầu với những khó khăn, giải quyết những bất công đã và đang xảy ra. Còn làm thủ tướng ở nước CHXHCNVN, khi gặp những vấn nạn xảy ra, thủ tướng Dũng, y như một con rùa co đầu rút đuôi. Chẳng hạn gặp chuyện Nguyễn Trường Tô, một tên rõ ràng lạm dụng chức quyền Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Hà Giang, đã cưỡng dâm, còn bắt giam 2 em học sinh vị thành niên, Thúy và Hằng, với bản án tổng cộng 11 năm tù. Hai em từng kể rõ những lần bị ép buộc ăn nằm với Tô qua trung gian tên hiệu trưởng Sầm Đức Xương. Hai em biết rõ số điện thoại của Tô, chỗ văn phòng làm việc, kể cả mật mã để có thể được vào gặp mặt với Tô, còn biết luôn cả bảng số xe của Tô. Ngoài ra, người ta còn chụp luôn cả hình ảnh trần truồng của Tô với gái, ấy thế mà Tô vẫn sống ung dung ngoài vòng pháp luật, còn thủ tướng Dũng nhà ta chỉ cười trừ, xem chừng như còn như là một tên tòng phạm, hay đồng lõa tội ác với Nguyễn Trường Tô. Rồi vụ Vinashin cũng vậy, Dũng nhà ta cho chìm xuồng tỉnh bơ, 4.5 tỉ USD đi đứt, chẳng một ai chịu trách nhiệm bị bắt hay bị bỏ tù, còn người dân nghèo khổ ở tỉnh Lâm Đồng, 3 người dân đói qúa phải đi ăn cắp 2 con vịt về ăn, bị kết án tổng cộng 13 năm tù, đến giờ vẫn còn bị giam cầm. Đất nước CHXHCNVN nó bất công thế đấy, nhưng thằng thủ tướng vẫn tại vị, vẫn cười hì hì. Thiên hạ chẳng biết nó giúp ích được gì cho nước, chỉ biết sau 7 năm cầm quyền, nó phán lên một câu: “Đất nước còn nghèo”, Trước đó, 2006-2007 Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp Cao Đức Phát đã từng lên tiếng có trên 800 ngàn dân đang sống trong cảnh đói, phải ăn cháo cầm hơi, từ Đà Nẵng xuống tận mũi Cà Mau. Và Dũng đã ký quyết định 1459/QĐ-TTg, ký ngày 7/11/2006, cấp phát 12 ký gạo/1người/1tháng. Giờ đây, chỉ 4 đến 5 năm sau, chỉ trong một tỉnh mà đã có đến 240 ngàn dân đang lâm nạn đói. Hiện tại, chẳng biết Dũng đã làm ăn kiểu gì ? Lạm phát, xăng, điện, thức ăn gía tăng phi mã, nền kinh tế cả nước đang xuống hố sâu vực thẳm chẳng thấy đáy và Dũng đang cần gấp 300 tỉ USD cho đầu tư phát triển, để cứu nguy nền kinh tế. Bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Võ Hồng Phúc cho biết con số 10 tỉ USD dự trữ ngoại tệ quốc gia còn lại, chỉ tới tháng 10 là hết sạch. Đừng nghĩ rằng, phải đợi đến tháng 10, nền kinh tế mới bị sụp đổ. Thật ra, nó có thể bị sụp đổ bất cứ lúc nào khi bị khủng hoảng. Lạm phát phi mã là sự khủng hoảng, có nghĩa tiền Hồ mất giá. Điều này dẫn đến mọi người dân đều muốn giữ lại hàng hóa, không bán ra, mà còn dự trữ thêm hàng hóa vì cứ sợ tiền Hồ mất gía thêm. Tất cả các cơ sở kinh doanh thu mua không đủ hàng, theo tin cho biết công suất thu mua chỉ đoạt khoảng 40%-50% lúc bình thường, nên bắt buộc phải sa thải 50% đến 60% số công nhân, công nhân thất nghiệp không còn sản xuất, nền kinh tế sụp đổ.

Trở lại sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, đây là một trường hợp rất đặc biệt. Chế độ Nguyễn Tấn Dũng được ví như một hòn đá tảng khổng lồ đang cản đường đi đến hạnh phúc, ấm no, và phát triển của toàn dân Việt Nam. SV Nguyễn Anh Tuấn được ví như một điểm tựa, và sức của toàn dân và quốc tế chính là cái cây đòn dài. Trường hợp thứ nhất, thật ra, Tuấn chỉ là điểm tựa để bẫy đi Điều 88 của BLHS. Chế độ Dũng, không bắt Tuấn, buộc phải trả tự do cho TS Cù Huy Hà Vũ cùng tất cả các nhà dân chủ khác đã bị kết án bởi Điều 88. Điều 88 bị xóa sẽ dẫn đến tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập đảng chính trị… và từ đó sẽ xóa sổ sự độc quyền lãnh đạo của ĐCSVN, rồi dẫn đến xóa sổ chế độ độc tài Nguyễn Tấn Dũng. Trường hợp thứ hai, dù chế độ Dũng có bắt Tuấn hay có câu giờ để chìm xuồng, sinh viên Nguyễn Anh Tuấn2 cũng phải xuất hiện, rồi Tuấn3, Tuấn4, Tuấn5,.. tiếp tục xuất hiện, cứ tiếp tục như thế mà xuất hiện. Rất quan trọng ở đây là yếu tố tranh thủ quốc tế. Khi Dũng1 bị bắt cả thế giới lên tiếng, chế độ Nguyễn Tấn Dũng vi phạm trắng trợn điều 19 trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và cũng Điều 19 trong Công Ước Về Quyền Dân Sự Và Chính Trị mà chế độ Dũng là một thành viên của LHQ. Mỗi lần bắt 1 Tuấn, quốc tế cần gia tăng cường độ, hình phạt đối với chế độ Nguyễn Tấn Dũng. Riêng toàn dân, cùng nhau biểu tình bằng những cuộc thắp nến, cầu nguyện cho Tuấn1, Tuấn2, Tuấn3… cho đến khi nào chế độ Dũng phải xóa sổ Điều 88, hay phải bị sụp đổ.

Có lẽ những tên cộng sản, họ nghĩ rằng, sau hàng chục năm gây tội ác với dân tộc Việt Nam bằng một cuộc nội chiến, làm hàng triệu dân Việt chết oan, đúng nghĩa hơn là một cuộc bành trướng chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa xã hội với những mỹ từ như “giải phóng”, “chống thực dân Pháp”, “chống đế quốc Mỹ xâm lược”, và ngày nay họ sợ rằng nhân dân sẽ trả thù họ. Giải-phóng gì, khi người dân VNCH giàu có trở thành nghèo đói. Chống-thực-dân-Pháp gì, khi sống với cộng sản, đời sống còn tệ hại hơn thời Pháp thuộc gấp 10 lần. Thời Pháp vậy đó, mà người dân còn được viết báo, làm báo, biểu tình… và chẳng có ai bị đói, chẳng có ai phải bán con làm dâu xứ người, chẳng ai phải từ gĩa gia đình đi làm lao nô xứ người, cũng chẳng có trẻ em Việt Nam phải qua bên Campuchia sống nghề mãi dâm. Chống-đế-quốc-Mỹ-xâm-lược gì, khi người Mỹ chẳng chiếm một mảnh đất của Việt Nam. Nhìn xem, Mỹ cũng chẳng chiếm đất của Nam Hàn, đất của Nhật Bản. Ấy vậy, mà gần 2 triệu dân Việt Nam lại đi chiếm đất Mỹ, đang sống trên đất Mỹ, vậy ai xâm lược ai đây ??? Phải nói, bản tánh người Việt Nam dễ tha thứ, không thù dai đâu mà phải sợ. Thời vua Lê Lợi, giặc Minh sang tàn sát dân ta, nhưng sau khi dẹp xong giặc Minh, thay vì phải trả thù, vua Lê Lợi còn cung cấp thuyền và ngựa cho tướng Vương Thông của giặc Minh để trở lại về Tàu. Đó là tính nhân bản của người Việt Nam, hoàn toàn đi ngược lại 180 độ đối với người cộng sản. Cho nên, một khi chế độ CS bị sụp đổ, những anh cộng sản, đừng có “suy bụng ta ra bụng người”, chẳng có anh CS nào phải bị đi “học tập cải tạo” đâu. Đừng qúa sợ hãi mà cứ tiếp tục ôm lấy lá cờ búa liềm Liên Xô và lá cờ máu sao vàng của tỉnh Phúc Kiến để tiếp tục làm khổ dân. Hãy nhìn qua Tây Đức đấy, chắc bản tánh cũng giống dân Việt Nam thôi, khi thống nhất với cộng sản Đông Đức, có ai phải đi “học tập cải tạo đâu” ??? Đến nỗi bà thủ tướng Đức Angela Merkel hiện tại, chính là người đã từng sống trong xã hội cộng sản Đông Đức trước đây đấy.

Đang viết bài, nghe tin nhà cầm quyền Nguyễn Bá Thanh ở Đà Nẵng đang cố tình lấp kín những mương, lạch thoát nước tại Cồn Dầu. Điều này sẽ làm Cồn Dầu bị nhấn chìm trong nước, nếu có những cơn mưa lớn phủ tới. Đây là một đòn vô cùng ác độc của nhà cầm quyền Nguyễn Bá Thanh, để bà con giáo dân Cồn Dầu không còn đất sống, xin được báo động cùng với mọi người.

Chuyện gì phải, hợp ý dân, tự nhiên đến, mà chẳng cần ai phải kêu gọi. Nguyễn Anh Tuấn2 xuất hiện cũng là điều hữu lý, tự nhiên của trời đất.

Ngày 9 tháng 5 năm 2011
Mylinhng@aol.com
http://mylinhng.wordpress.com

Cần hợp lực, tránh phân rẽ

Trong bất kỳ cuộc chiến đấu nào, muốn chiến thắng, phải có sức mạnh. Không đủ sức mạnh, việc thắng đối phương mạnh hơn mình thường chỉ là ảo tưởng! Không đủ mạnh, ta cũng không lôi kéo được sự hợp tác của những thế lực bạn có cùng mục đích với ta. Thật vậy, người giầu mấy khi lại chịu làm ăn chung với anh nghèo, trừ trường hợp hợp tác theo quan hệ chủ-tớ.

Nói cụ thể hơn, muốn chiến thắng độc tài cộng sản, chúng ta phải có lực. Muốn vận động các nước tự do dân chủ trên thế giới giúp ta chiến thắng cộng sản, ta cũng phải có lực thì họ mới sẵn sàng giúp. Không đủ lực, không đủ mạnh, thì chiến thắng chỉ là ảo tưởng! Giống như kẻ không có tiền mà cứ mơ làm chủ một chiếc Mercedes hay một dinh thự sang trọng!

Muốn hợp lực thì đừng quá khắt khe trong việc chọn lựa người đối tác. Chỉ chấp nhận người giống mình thì thật trái tự nhiên, vì “bá nhân bá tính”, có mấy ai giống ai? Chỉ chấp nhận hợp lực với những người không có tật xấu, không tham sân si, thì đốt đuốc tìm khắp thế giới chưa chắc đã thấy ai. Trái lại, phải sẵn sàng liên kết với những ai cùng chung mục đích với mình, bất kể họ có đường lối khác, hay có những xung đột về quyền lợi, thậm chí có tư thù với mình. Gương Trần Hưng Đạo dẹp mối thâm thù với Trần Thủ Độ để cùng hợp lực đánh đuổi quân Mông Cổ là một gương sáng lạn mà các nhà đấu tranh dân chủ hiện nay nên thực hiện.

Lịch sử cho thấy những nước nhỏ ở cạnh nhau không nhiều thì ít đều có những xích mích, thậm chí có những mối thâm thù. Nhưng khi bị một nước lớn muốn thôn tính, những nước nhỏ ấy liền dẹp bỏ mọi xích mích hay thù oán để cùng hợp lực chống lại nước lớn kia. Không dẹp xích mích và thù hận để hợp lực thì sẽ… “chết cả lũ”!

Muốn hợp lực, phải tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt của nhau. Càng chấp nhận khác biệt, càng dễ dàng hiệp nhất. Đó là “hiệp nhất trong đa dạng”, theo tinh thần “quân tử hòa nhi bất đồng”.

Hiện nay, kẻ thù còn đang diễu võ dương oai thì phải hợp lực mới có sức mạnh mà chiến thắng. Vì thế, bây giờ chưa phải là lúc chọn những người tài đức, xứng đáng để điều hành đất nước khiến ta cần loại trừ những người khiếm khuyết. Khi cần phá một khu rừng để xây đô thị, ta chưa cần người có trình độ học vấn hay đạo đức tốt lành, mà cần bất kỳ ai có khả năng chặt cây xúc đất, miễn không có ý phá hoại là được. Bao giờ xây dựng đô thị thì mới cần tuyển những kỹ sư tài ba, những thầu khoán lương tâm… Cần người phá rừng mà lại chỉ nhận vào những kỹ sư tài ba, những thầu khoán lương tâm… thì thật là điên, chẳng bao giờ phá được!

Khi hợp lực đấu tranh, chỉ những người có ý phá hoại mới cần phải loại trừ! Do đó, phải phân biệt giữa khác biệt và đối nghịch. Khác biệt thì dù khác tới đâu cũng nên tôn trọng và chấp nhận. Nhưng không thể chấp nhận những kẻ đối nghịch là những kẻ đi ngược lại mục đích chung của chúng ta.

Chẳng hạn đã đấu tranh cho dân chủ đa nguyên thì ta nên tôn trọng và chấp nhận tất cả những cá nhân hay tập thể cùng theo đuổi mục đích đó, cho dù họ có đường lối rất khác với chúng ta. Nhưng không thể hợp lực với những người chủ trương ủng hộ chế độ độc tài, những kẻ chủ trương loại trừ những ai khác đường lối với mình, không chịu theo mình. Hay khi chống văn hoá vận của cộng sản, chúng ta không nên bắt mọi người phải chống theo cách của mình; trái lại, nên hỗ trợ họ chống theo cách của họ. Nhưng phải cương quyết trực diện đấu tranh với bất cứ ai chủ trương ủng hộ hay tiếp tay cho cộng sản thực hiện kế hoạch văn hóa vận này.

Chỉ cổ võ và thực hiện hợp lực như thế vẫn chưa đủ. Để có được sức mạnh, chúng ta còn phải khôn khéo và can đảm chống lại kế ly gián của cộng sản, những kẻ đang vô tình hay cố ý làm lợi cho cộng sản bằng cách gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt, hoặc âm mưu kéo bè kết đảng để lũng đoạn hàng ngũ đấu tranh. Muốn biết một người có làm lợi cho cộng sản hay không, đừng chỉ xét những câu nói đầy vẻ chống cộng của họ, mà hãy xem điều họ nói, họ viết, họ làm có hại cho sự đoàn kết của khối người Việt Quốc gia, của hàng ngũ đấu tranh chống cộng hay không. Tay sai của cộng sản có thể hô đả đảo cộng sản hay chửi Hồ Chí Minh còn mạnh hơn cả người quốc gia hầu mọi người tin rằng họ là người chống cộng, nhờ đó họ mới leo cao luồn sâu vào hàng ngũ người quốc gia để lũng đoạn, gây hoang mang, chia rẽ.

Tuy nhiên, cần phải rất thận trọng khi kết luận một người là cộng sản, là tay sai cộng sản, nhất là khi người ấy có cả một quá trình tích cực chống cộng. Làm mất uy tín những người tích cực chống cộng đều nằm trong kế ly gián của cộng sản. Đấu tranh hay làm chính trị thì phải dùng mưu kế. Mưu kế thì biến hóa khôn lường, người bình thường, ngay cả đối thủ dù khôn ngoan chưa chắc đoán ra được. Một người có cả một quá trình tích cực xây dựng dân chủ và có thành tích đấu tranh, nếu ta chỉ dựa vào việc người đó bắt tay hay giao thiệp với một người cộng sản để xác quyết người đó là cộng sản thì quả là hồ đồ. Biết đâu đó là mưu kế của người ấy.

Trước một sự kiện chưa sáng tỏ, chúng ta có quyền nghi ngờ, nhưng chưa nên vội vàng xác quyết. Hãy đợi cho đủ bằng chứng xác đáng hãy kết luận; nếu không, chúng ta lại đi vào lối mòn của cộng sản: “Thà giết lầm hơn bỏ sót”, hay mới chỉ thấy một người giao tiếp với người đối phương đã xác quyết người ấy là Việt gian, là theo địch, rồi bắt giam hay giết họ!

Tóm lại, muốn chiến thắng cộng sản, phải biết hợp lực để có sức mạnh, và mặt khác phải chống lại kế ly gián gây phân hóa của cộng sản.

Houston, ngày 08-5-2011

Nguyễn Chính Kết

Tố Hữu Và Đám Đàn Em Là Tội Đồ Lớn Nhất Cuả Lịch Sử Thi Ca

Cái thời tự lực văn đoàn, trăm hoa đua nở, văn chương hiện thực xã hội chủ nghiã thì tôi còn đang bú mớm, hoặc còn đang mải chơi bi chơi đáo chứ có biết gì đâu. Nay mái tóc đã điểm bạc lại định cư ở nước ngoài từ lâu. Nhưng vì nhớ nhung Tổ quốc và thèm nói tiếng mẹ đẻ mà tôi nhẩn nha làm thơ viết văn. Qua đọc các báo điện tử trên mạng tôi mới biết là dân tộc ta đã trải qua một thời kỳ dài hâm hấp dở hơi theo nền mạo hoá Mácxít do Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Tố hữu và đám đệ tử chủ xướng. Các văn thi sĩ chân chính tài ba bị đảng tẩy não và cạo lông đấu tố phê bình khổ nhục như thế nào? Họ rêu rao về đường lối văn nghệ cuả đảng, nghệ thuật vị nhân sinh: nhà nhà làm thơ, người người làm thơ và viết văn. Các văn sĩ cách mạng vưà thoát nạn mù chữ nổi lên như diều gặp gió. Họ tuyên dương về văn thơ hiện thực xã hội chủ nghiã. Theo tôi thì làm quái gì có dòng văn thơ hiện thực xã hội chủ nghiã để ca ngợi chế độ Xã hội, xã hội chủ nghiã giàu có tươi đẹp vạn lần tư bản? Chỉ có dòng thơ Con Cóc thôi.

Bây giờ tôi sẽ cùng với các bạn ta bàn thảo xem dòng thơ con cóc này nó hay ho ra sao?
Người Việt nam có câu: „ Con cóc là cậu ông giời
Ai mà đánh cóc thì giời đánh cho“

Con cóc là hình ảnh thân thuộc của người nông dân Việt nam. Cái con vật chỉ biết nhảy bằng hai chân, hôi hám xấu xí ghê tởm như vậy mà được coi là họ hàng cuả ông Trời thì quả là một điều đáng để cho chúng ta phải bàn đến. Theo tôi con cóc cũng rất quý vì cóc chỉ ăn sâu bọ để giảm bớt thiệt hại cho ruộng vườn cuả người nông dân, thịt cóc có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là trong hoàn cảnh đói kém này để chữa bệnh còi xương cho trẻ con ở nông thôn. Nhựa cóc mủ cóc thì rất độc để dùng trong y học, thân nhiệt cuả cóc lại nhạy cảm với môi trường và tự nhiên. Trời đã ban cho bà con nông dân ta một cái máy dư báo thời tiết sống. Nhờ đó mà mới đoán biết trước được những cơn mưa hoặc lũ lụt lớn. Nhưng chỉ có một điều con vật này không có ai muốn gần guĩ nó. Vì sự hôi thối bẩn thiủ xấu xí của nó và nhưạ cuả nó tiết ra lại rất độc, nhỡ chẳng may dính phải có thể thiệt hại đến tính mạng. Nó sinh ra từ những lỗ nẻ, những vũng nước hang hốc rác rưởi. Nó tượng chưng cho sự mất gốc thiếu giáo dục, nó lại hay nhảy nhót lung tung vô tổ chức.

Trong lĩnh vực văn chương thơ phú người ta có nói đến dòng thơ con cóc, để hàm ý một loại thơ tính nghệ thuật kém, có ý khoe khoang nhưng nội dung lại rất độc địa xấu xa. Loại thơ này không giúp gì cho tính thẩm mỹ, những cảm xúc chân tình thương ái của loài người. Nó không thăng hoa cái đẹp, đề cao nhân phẩm, lương tâm, tính bản thiện cuả con người. Nó là loại thơ dối trá , nó là một độc tố rất có hại như mủ cóc tiết ra từ gan con cóc. Để phê phán loại thơ độc hại vô bổ này tôi có hiến tặng cho đời bài thơ“ Thơ Ông Cóc“. Đây không phaỉ có ngụ ý miả mai cho một cá nhân nào, hay tạo ra một đối trọng để tự nâng mình lên. Tôi chỉ muốn nói thực lòng về cảm xúc cảm nghĩ cuả tôi về nhân tình thế thái mà thôi.

Tự do tư tuởng, suy tư, yêu ghét, chê bai, ngợị khen mà dám viết thẳng ra mới là điều cũng đáng để cho chúng ta nên xem xét thận trọng..Tất nhiên là trung thực, thẳng thắn, không kiêu căng, đố kỵ mà cố tình bôi nhọ hạ thấp nhân cách của người khác là một điều không nên, có gì nói thế. Con người ta là vốn quý, nhưng nhân cách trong văn thơ lại là một chuyện khác, họ là con người khác. Nhân quả tương báo đều do cái nghiệp của mình tạo ra cả. Chúng ta vẫn biết đời đã sinh ra Chu Du thì có Gia cát lượng, có gia cát Lượng thì có Tư mã Ý, Tào Tháo…Cho nên không ai dám chắc là hôm nay ta cười người, hại người, giết người, vu cáo đấu tố xỉ nhục, bỏ tù đày đoạ người khác mà có thể bình chân vô sự mãi được. Rồi về sau, có khi cả hàng ngàn đời sau; nếu ta chết đi sẽ có người khác cười ta và chửi ta, thậm chí còn ném phân tro rác rưởi lên mộ bia cuả ta? Đó là cái luật luân hồi nhân quả mà thôi. Là người Việt Nam chắc ai cũng biết cái anh chàng Phạm Tiến Duật là một con cóc tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ, đứng sau 4 con cóc cụ : Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Xuân Diệu với danh tiếng cuả mình là Hoàng Tử Rởm đã gọi Phạm Tiến Duật là con Phựợng Hoàng sơ sinh. Ta hãy tưởng tượng nghe hai anh chàng lái xe vận tải cuả Đoàn vận tải 559 gặp nhau ở binh trạm tiền phương , anh Bộ hỏi anh Đội: Đội ơi! Sao xe cuả mày chưa kịp lắp kính à? Đội bảo: Xe không có kính, không phải vì xe không có kính. Đạn nổ bom rơi kính vỡ đi rồi. Một câu nói rất vớ vẩn bình thường như vậy , nhưng ông Diệu lại gật gù khen mãi, ý tứ thâm sâu, hay vô cùng. Cũng giống như chàng tổng cóc Tố Hữu gật gù khen mãi chiếc lá đa rơi nghiêng cuả Trần Đăng Khoa. Nhưng phải thưà nhận ngày xưa họ còn sống, họ tác yêu tác quái gây bao chuyện bất công bi thương cho nền văn học Việt Nam. Đời thuở nhà ai laị đi ghét người có tài làm thơ, quy chụp đủ điều, đường lối văn nghệ, quan điểm giai cấp, tính đảng, tính đấu tranh…Họ giống như những thằng hâm. Thơ phú nó chỉ là sản phẩm tinh thần của một bộ óc, một trái tim, một tâm hồn. Ông Các Mác ( Karl Marx) viết bố láo bố lếu để kiếm tiền nuôi vợ nuôi con ông ta, cũng là sản phẩm tinh thần cuả bộ óc, có ai cấm đoán đâu. Mặc dù thời đó ông ta bị người đời coi: là có tư tưởng huyền hoặc, mơ hồ, phản động, viết lách tuyền truyền nhằm nhiễu loạn nhân tâm. Nhưng bỏ tù Mác, tra tấn đánh đập Mác đòi đưa Mác đi cải tạo giáo dục thì không thấy nghe nói đến. Nhắm mắt tôn thờ nói đúng ra là việc cá nhân các vị ấy, chứ dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam, mà dùng súng đạn bắt mọi người phải tuân theo? Thật chả ra thế nào cả , cứ hâm hâm dở dở như vậy… Nhưng quyền lực sinh sát tàn ác vô cùng….

Tôi đã sống nửa già thế kỷ đọc lại lịch sử Việt Nam, chuyện cải cách ruộng đất, chuyện Tố Hữu đày aỉ ông Hữu Loan, Trần Dần chỉ vì tài làm thơ hay hơn ông ấy. Ai laị đày aỉ Hữu Loan một người đến tận cùng của kiếp người chỉ vì bài thơ khóc vợ: ” Đồi Tím Hoa Sim “. Người ta sinh ra không có tâm hồn, không có tình cảm, không có trái tim biết yêu thương thì thử hỏi làm thơ để làm gì? Bảo rằng làm thơ chỉ để ca ngợi kính yêu lãnh tụ và chủ nghiã xã hội thôi, thật là hâm một cục. Không có ai hâm hấp như cái anh chàng Tố Hữu này. Không biết ông ta ăn cái gì mà hâm vậy?

Các Cụ nhà ta ở Việt Nam sau bữa ăn thường có 3 thói quen, uống nưóc chè,hút thuốc lào và xỉa răng. Nước chè và thuốc lào là cái thú thưởng thức hương vị và thú cảm. Xỉa răng chỉ để chọc cái tăm tre vào chân răng lôi ra những thứ lương thực, thực phẩm thưà không cần nữa để làm mát thoáng chân răng. Tôi cũng vậy muốn làm thoáng mát tâm hồn mình và hay làm thơ, và nó cũng gần như thói quen các cụ xỉa răng vậy thôi. Nói vậy không phải khoe khoang làm thơ dễ như xiả răng, hay thò tay vào tuí lấy đồ vật, mà cái chính muốn nói làm thơ với tôi là không thể thiếu được trong đời. Dùng thơ để khóc cho đời, nước mắt cuả nhân tình thế thái mà thôi, nếu mình muốn khoẻ mạnh và muốn sống đẹp.Tôi không biết uống rượu và chẳng nghiện ngập cái gì cả. Là đấng nam nhi mà không biết uống rượu và hút thuốc lá. Ngày xưa các nhà thơ Việt Nam, từ cụ Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Hồ Dzech ai cũng là sâu rượu cả, có cụ còn nghiền cả thuốc phiện như Tản Đà, Nguyễn Bính chẳng hạn. Nói như thế tôi đâu có ý dám so sánh với các cụ. Tôi chỉ là loại hậu sinh còn phải học nhiều ở các cụ; nhưng tôi chắc chắn hơn hẳn các Cụ về mặt thể lực. Về mặt sức khoẻ cuả kẻ phàm phu tục tử này thì kẻ hậu sinh xin phép được tự nhận là hơn thôi. Mấy chục năm nay tôi luôn no đủ, ngày nào cũng có thịt ăn, hoa quả muà nào thứ ấy. Như vậy so với các bác Tản Đà, Nguyễn Bính v.v… tôi sống sướng hơn các bác ấy nhiều quá. Còn các khoản khác, trí tuệ, thơ phú tài năng thì chắp tay mà xin theo lời chỉ dạy của các bác bề trên. Tôi còn hơn các bác ở điểm là thơ tôi làm ra không phải để in để bán kiếm tiền mua gạo, nuôi vợ nuôi con. Tôi không nghèo như các bác, với đồng lương hiện tại tôi cũng vui vẻ sống, có tiền mua ô tô, xuân thu nhị kỳ còn gửi về Việt Nam giúp đỡ già.

Tôi hay nôm na làm thơ để kể lể nỗi khổ nỗi bất công ở đời, những lời yêu thương mà tự tôi cảm nhận thấy, nó cũng là trò chơi trí tuệ? Khi đã dính vào thấy nó cũng hay hay như người nghiện vậy, có lẽ bộ óc trái tim con người đã dính vào cái nghiệp văn chương thơ phú thì bỏ không được, như anh chàng chót nghiện rượu, nghiện ma tuý vậy. Thực lòng tôi cũng ngaị chữ ảo danh, vì danh vọng, lời khen chính nó sẽ giết chết hồn thơ đi đến mất khả năng sáng tác. Rất nhiều người có tài làm thơ năng khiếu từ nhỏ và được vội bơm lên là thần đồng, ca ngơị quá mức đến mức không còn cảm thụ gì nưã. Như trường hợp Trần Đăng Khoa và Phạm Tiến Duật chẳng hạn.Chính Thày Khổng Tử ngày xưa đã từng nói: “Ai khen ta là thù của ta, ai chê ta là bạn cuả ta”. Không biết tôi nhớ vậy có hợp ý các bạn không? Ở trên đời không có gì gọi là đỉnh cao, trí tuệ cả, tuyệt đối chân lý cả, cái ta cho là đúng thì giưã lòng nó đẻ ra cái sai, cái ta cho là sai thì giưã lòng nó lại đẻ ra cái đúng. Nói tóm lại tuỳ thời tuỳ hoàn cảnh mà sự hay dở, đúng sai ta sử trí cho nó hợp lý tương đối mà thôi. Thơ phú văn chương cũng vậy, có những bài thơ chỉ hay trong một hoàn cảnh thích hợp, và trái lại nó sẽ lại là điều ghê tởm sỉ nhục trong một hoàn cảnh chế độ xã hội khác. Có những bài thơ đạt đến cảnh giới của lương tâm nhân phẩm trái tim hoàn mỹ không vụ lợi, không tham vọng,thì để lại hương thơm ngàn thu. Có những bài thơ khi người ta phát hiện ra nó có ý đồ vụ lợi, tham vọng ích kỷ cá nhân thì tự nó sẽ bị hủy diệt và lưu xú vạn niên. Kể cả những lời thơ không êm tai, chối tai thô tục, nhưng nó xuất phát từ tấm lòng thẳng thắn có khi nó còn lại đáng trân trọng hơn những lời thơ hoa mỹ nhưng đầy giả dối, tâm điạ hẹp hòi bỉ ổi bên trong. Nói tóm lại tôi muốn đề cao chữ “ Tâm”, cái tâm chân thực, kể cả nỗi bực bội khó chiụ cuả người làm ra bài thơ. Hiểu đúng cái tâm mới là cao quý.Cũng mong quý vị đừng cho là những lời giáo huấn thuyết pháp về thơ, tôi không có ý ấy mà chỉ là để kể lể tâm sự cuả tôi với qúy vị, vì tôi đã coi qúy vị như là những người bạn tâm giao cuả tâm hồn, chỉ quen trên mạng chứ đâu nhất thìết cứ phaỉ gặp nhau ăn uống nhậu nhẹt với nhau mới là tri kỷ.
Sau đây tôi muốn chia sẻ với các bạn bài thơ tôi tặng riêng anh chàng Phạm Tiến Duật và bài thơ cuả tôi về Trường Sơn. Theo tôi Trường Sơn là điạ ngục trần gian vì không quen thung thổ chui vào đấy thì khó sống xót lắm, chứ tôi không coi trường sơn đẹp như thiên đường theo cách mô tả cuả ông Duật để dụ thêm nhiều chú lính non Bắc Việt háo danh:

Tặng Anh Phạm Tiến Duật

Con Phượng Hoàng sơ sinh
Xuân Diệu đã gọi anh
Lông măng chưa đủ cánh
Của một thời chiến chinh

Chiến tranh đã qua đi
Người ta còn nhắc laị
Dăm bài thơ chống Mỹ
Ngân vang một cuộc đời

Tôi biết nói làm sao ?
Khi đọc những vần thơ
Ruồi vàng thành bọ chó
Muỗi rừng sâu vo ve

Ôi cuộc đời tang thương
Như cô gái xung phong
Thạch Kim là Thạch nhọn
Anh Duật ơi ! Em đây

Nước mắt cứ chảy daì
Trôi theo hai cuộc đơì
Mà sao đành côi cút
Đêm Trường Sơn mưa rơi

Trong tiếng kèn đưa ma
Kính viếng anh bài thơ
Cuả một người đồng đội
Lính Trường Sơn năm xưa

Hương hồn còn bơ vơ
Con ve sầu ngẩn ngơ
Nuối tiếc thời oanh liệt
Nhưng chẳng dám kêu to….

Lu Hà

Phạm Tiến Duật, thực ra trên mạng Internet chưa thấy ai đăng trọn bộ thơ ông ta, chỉ có ba bài thơ trích đọan Trường sơn đông sơn tây, tiểu đội xe không kính và bài thơ gửi em cô gái xung phong. Theo t ôi đây là loaị thơ tuyên truyền, cổ động. Hình ảnh rất sáng động của một ngươì đã từng trải ở Trường sơn, chân thật đi vào lòng ngươì. Chính vì vậy Đảng cộng sản Việt nam đã dùng nó như những lá bài tâm lý để cổ vũ nam nữ thanh niên ra mặt trận. Nhưng tôi thấy nó là một bài hát đi vào lòng người hơn một bài thơ. Vì tôi nghĩ theo cách hiểu cuả tôi hiểu về thơ như thế nào? Thơ là tiếng nói của lòng người của tình yêu. Như một người con gái đẹp phải có duyên thầm kín. Cái duyên thầm kín đó là cái hồn của thơ, một ngươì con gái càng đẹp thì phaỉ có tính hấp dẫn, tính kêu gợi và kín đáo. Cũng như khi đọc một bài thơ phaỉ để laị trong lòng ta một dư âm và nhiều vương vấn và bao nhiêu điều thầm kín khác nưã còn che dấu. Hay nói một cách dễ hiểu: còn nhiều ý nghiã ẩn ý trong thơ. Đọc thơ Phạm Tiến Duật như ta bắt gặp một cô gái lào không còn một mảnh aó xiêm nào cả, tôi không nói tính dâm đãng. Thơ Phạm Tiến Duật không có dục tính mà tôi nói sự trần trụi ngô nghê của thơ. Loaị thơ này dễ phù hợp cho chính sách tuyên truyền quần chúng, loaị thơ phổ thông cuả đảng. Nên tôi chỉ thích tìm đọc những baì cổ thi đầy ẩn ý như của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Hồ Xuân Hương, hay thích đọc thơ Nguyễn Bính, Hồ Dzech. Đúng là Thơ Phạm Tiến Duật hay nhưng ở mức độ bình dân thôi, nhưng đằng này ngươì ta bơm ông ta lên quá đáng như là một nhà thông thái, viện sĩ hàn lâm về thơ….

Lịch sử dân tộc ta còn nợ của những người như Trần Tú Xương( thơ cũ) , Tản Đà ( nửa cũ nửa mơí) và Hồ Dzech( thơ mới). Ba con người này mơí xứng được tôn vinh, nhưng cả ba sống rất khổ cực, cơm không đủ mà ăn và còn nữa là Hữu Loan… Chỉ có vài ba bài thơ chống Mỹ thôi mà Xuân Diệu laị tôn xưng Phạm Tiến Duật lên là con phượng hoàng non? Theo tôi có lẽ chỉ muốn làm đẹp lòng đảng nên Xuân Diệu đã cưa sừng làm nghé? Một ngươì làm thơ cầu kỳ chau chuốt như Xuân Diệu không lẽ laị đơn giản như thế ư? Về mặt này tôi nghi ngờ sự thành thực của ông Ngô Xuân Diệu. Theo tôi thơ Phạm Tiến Duật chỉ xứng đáng chỉ là loaị thơ cổ động tuyên truyền, thơ tâm lý chiến có giá trị trong một chừng mực nào đó.Thế hệ con cháu và cả chính bản thân tôi nưã cương quyết không học cái lối làm thơ theo kiểu Phạm Tiến Duật. Thời cộng sản Hồ Chí Minh ở Hà nội có phong trào loạn thơ, làm thơ cứ như viết văn vần, kể cả các ông thợ thơ như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Cù Huy Cận v.v …. Những bài thơ hay toàn là những bài trước năm 1945, rồi đuối dần đén năm 1954 . Sau đó họ là đỉnh cao cuả dòng thơ tăm tối, vô nghiã, chỉ biết ca ngợi một chiều, thơ con cóc, thơ con vẹt , ngoài chuyện tuyên truyền khuyến khích bắn giết ra, chẳng có cái quái gì để viết nưã. Nếu đọc thơ để học tập và thưởng thức nghệ thuật văn chương? Theo tôi Phạm Tiến Duật là nhà thơ tồi tệ chán ngán cuả tôi. Xin lỗi đó là ý kiến cuả cá nhân tôi thôi, chứ đối với thiên hạ có thể ông ta còn đắt giá lắm….?

Theo tôi mấy câu hô khẩu hiệu cuả ông Duật, ông Hữu, ông Viên v.v..không giúp cho ta ý thức thẩm mỹ trình độ dân trí lên cao. Chiến tranh đã qua lâu rồi, thơ ca cũng đóng góp rất nhiều về mặt kích động tinh thần, dù bài thơ đó không có giá trị về mặt nghệ thuật văn học. Nhưng thử hỏi ông Phạm Tiến Duật được cái gì cho sự cố gắng của mình? Một cái lều ở nhờ nhà người bạn, Cái Huân chương mà người ta tặng ông ta, rồi con cháu cũng ra đồng nát đổi kẹo kéo. Tôi có cảm tưởng như ông Duật là loaị người ưa nịnh, hiếu thắng, thích danh tiếng và là một tín đồ rất đặc biệt của lý tưởng cộng sản. Suy tư cuả tôi như vậy khi đọc ba bài thơ chống Mỹ diệt Ngụy của ông ta. Mặc dù thiên hạ khen hay theo guồng máy tuyên truyền cuả đài và báo chí. Nếu người ta cứ in bình thường và đừng thiên vị nó về mục đích chính trị thì giá trị cũa nó sẽ rất khác. Thơ là tiếng nói của trái tim, của tâm hồn và nghệ thuật thì hãy để cho lòng người tự nhiên cảm nhận đến nó. Còn cố tình tôn xưng bài thơ và tôn xưng người cha tinh thần cũa nó như ngày xưa là chuyện khác. Bây giờ ta không cần mục đích chính trị nữa, nên thơ Phạm Tiến Duật cứ để cho người đời và lịch sử văn học thẩm định. Tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn viết ra , hy vọng cũng không phaỉ là thưà thãi vô bổ. Có điều gì làm các bạn khó chiụ phật lòng hãy bỏ quá cho tôi . Nếu các bạn dành tí chút thời gian đọc lướt qua cho vui, muốn được thỉnh giáo bạn nào có hảo ý đóng góp cho tư tưởng cuả tôi đánh giá về dòng thơ cách mạng chống Mỹ cứu nước.

Giấc mơ Trường Sơn

Mấy tháng trời nhai maĩ địa liền
Tàu bay rau đất mọc loèn xoèn
Mật vàng xanh đỏ ruồi bu đến
Sốt rét từng cơn nhớ tổ tiên

Hai mùa mưa nắng gió vàng da
Chống gậy liêu xiêu mắt ướt nhoà
Đằng đẵng tháng ngày mong mỏi Tết
Thư nhà xa tít gió mây xa

Một chiều ảm đạm gọị lên chơi
Có bức thư riêng đã mở rồi
Ký ninh thuốc đắng nghe vượn hú
Đau lòng con lắm lệ mưa rơi

Run tay tôi đọc bức thư Cha
Gió rét từng cơn nấc nghẹn ngào
Bom nổ đạn bay vùng tọa độ
Chớp xanh chớp đỏ tắt lời thơ

Một đời lính tráng chẳng mề đay
Công trạng xem ra chẳng có gì
Phá nuí mở đường thông chiến lược
Tháng ngày mòn mỏi ngóng mây trôi…

Mới mười bảy tuổi phaỉ tòng quân
Xa eẹ xa em cả mái trường
Gác bút vác dao ra mặt trận
Anh hùng dũng sĩ ở miền nam…

Một quãng đời qua trận gió bay
Hào quang tia chớp để ai hay
Núi sông kêu gọi cho chủ nghiã
Băng tuyết trời Âu đổi hướng rồi…

Hỡi ai đâu đó vẫn còn mơ
Chống Mỹ lời vàng vẳng tứ thơ
Ra trận muà này ôi đẹp quá
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Thế kỷ qua rồi ngoặt gió đông
Bạn thù đôi ngả lẫn vào trong
Tuyên truyền báo chí liên hoàn trận
Chỉ chết thằng ngơ đứng giưã đường…

22.12. 2007 Lu Hà
Chú thích: Điạ Liền: là loaị rau mọc loà xoà sát đất
Tàu Bay: loaị rau cao như cây rau cải, xanh lè

NÓI DỐI NHƯ… TỐ HỮU!

“… -Tôi đặc biệt cảm ơn nghệ sĩ Hoàng Cầm về những lời phê bình sắc sảo, chính xác và chân thành của anh bốn mươi năm trước đối với thơ tôi.

-Tôi khâm phục tài năng và ý chí của nghệ sĩ Đặng Đình Hưng. Đối với tôi, cuộc đời anh Hưng là một bài giảng cao cấp về niềm tin ở sự thật.
-Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu và sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên lãnh vực triết học. Trần Đức Thảo đã góp phần khẳng định vị trí tiên phong của đội ngũ trí thức cách mạng kiệt xuất và hùng mạnh.

-Văn Cao là một trong những nhạc sĩ lớn nhất.

-Quang Dũng là một trong những cánh chim đầu đàn của nền thơ cách mạng Việt Nam thế kỷ 20.

-Sau Quang Dũng và Hoàng Cầm, Trần Dần cũng là cây bút hạng nặng.

-Ngoài ra phải kể thêm Hữu Loan, Lê Đạt và Phùng Quán, ba nhà thơ ba vẻ khác nhau nhưng cùng sạu sắc, nóng bỏng tính chiến đấu không kém phần lãng mạn.

-Nhà văn Phùng Cung cũng cần phải được minh oan cùng với truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”. Không có ẩn ý gì xấu như 40 năm trước đã bị một số người lầm tưởng”.

Nếu không có lời ghi chú đoạn văn trên trích từ: “Nhật Hoa Khanh, Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng, không ghi nhà xuất bản” và sau đó là lời bình của ông Tưởng Năng Tiến:

“Mô Phật! Cuối cùng thì Tố Hữu đã buông đao, sau khi đã làm cho vô số cuộc đời bị “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” – nếu nói theo lời Phùng Quán” trong bài viết “Phùng Cung giữa trăng sao và mộ chí” thì phải nói là tôi không dám tin là nhà thơ VC Tố Hữu, con chim đầu đàn của nền văn chương cũi sắt của Việt Cộng lại có thể muối mặt nói dối không biết ngượng miệng như thế về các nhà thơ, nhà văn đã từng là nạn nhân của ông ta.

Như mọi người đều biết thì khi vụ Nhân văn Giai phẩm xảy ra, Tố Hữu là người chỉ đạo công tác tư tưởng và văn hóa văn nghệ thời bấy giờ,phụ trách việc đấu tố triệt hạ nhóm “Nhân văn – Giai phẩm”.

Sau khi Phạm Huy Thông, tiến sĩ, một trong những trí thức hàng đầu miền Bắc lúc bấy giờ viết bài “Một triết gia phản bội chân lý: Trần Đức Thảo” đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 4-5-1958, lúc cuộc đấu tố bước vào thời kỳ cao điểm.

Sau khi nói xấu Trần Đức Thảo đủ điều, Phạm Huy Thông xoay ra “chụp mũ, quy kết chính trị” cho nhà triết học này:

“… Mùa Thu 1956, Thảo tưởng thời cơ đã đến. Từ số 3 trở đi, báo Nhân văn chuyển hướng sang chính trị một cách rõ rệt. Bài “Nỗ lực phát triển tự do dân chủ” của Trần Đức Thảo được đăng trong số báo ấy, mở đầu cho sự chuyển hướng và được nhóm Nhân văn coi như cương lĩnh của mình. Trần Đức Thảo ở trong đại học và ngoài đại học lúc nào cũng lớn tiếng đòi trả chuyên môn, đòi trục xuất chính trị ra khỏi chuyên môn… Qua thư của Hoàng Cầm và nhiều tài liệu khác nữa, cho thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra.”

Ta thấy rất rõ ông trí thức Phạm Huy Thông đã tự đánh mất liêm sỉ tối thiểu của một nhà trí thức khi dựng đứng lên những chi tiết mà chỉ cần đọc lướt qua , ai cũng thấy ngay là bịa đặt.

“Cai thầu văn hóa, văn nghệ” Tố Hữu đã tiếp tay Phạm Huy Thông để “đánh” Trần Đức Thảo một cách tàn khốc và cật lực:

“… Chúng vu khống Đảng ta là ‘chủ nghĩa cộng sản phong kiến’ bóp nghẹt tự do, chúng vu khống những người cộng sản là ‘khổng lồ không tim’ chà đạp con người… xuyên tạc những quan hệ gai cấp trong xã hội. Trần Đức Thảo cũng đã cố tạo thế đối lập giữa lãnh đạo ‘kìm hãm tự do’ và quần chúnh lao động ‘đòi tự do’… Tất cả những luận điệu của chúng rõ ràng không nhằm mục đích nào khác là chống lại lợi ích của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, kích thích chủ nghĩa cá nhân thối nát, tạo nên miếng đất tốt cho những hoạt động khiêu khích, phá hoại của chúng, hòng làm thất bại cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc…” (Tố Hữu: Báo cáo tổng kết cuộc tranh đấu chống nhóm phá hoại “Nhân vaăn –Giai phẩm” trong hội nghị Ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn học-Nghệ thuật Việt Nam họp lần thứ III tại Hà Nội, ngày 4-6-1958).

Đó không phải là lần nhắc đến tên Trần Đức Thảo duy nhất trong bài nói của Tố Hữu. Ở một đoạn khác, Tố Hữu nói:

“… Trần Đức Thảo cố bịa ra cái “hạt nhân duy lý”, là một hỏa mù cốt để xoá nhòa ranh giới giữa cái đúng và cái sai, giữa cách mạng và phản cách mạng…”(Bđd).

Và cuối cùng, như một công thức bất di bất dịch để đúc kết các bài viết, bài nói, Tố Hữu kết luận:

“… Lấy đường lối văn nghệ của đảng Lao động Việt Nam làm vũ khí chiến đấu, giới văn nghệ chúng ta hãy tiến lên, tiêu diệt tận gốc đường lối văn nghệ phản động của nhóm Nhân văn – Giai phẩm” (Tố Hữu, Bđd).

Số phận của nhóm Nhân văn – Giai phẩm, trong đó có triết gai Trần Đức Thảo, đã được định đoạt: mất quyền công dân, bị tước đoạt tất cả, bị cưỡng bức lao động ở một vùng quê.

Nhiều năm sau ông Trần Đức Thảo mới được trở lại Hà Nội, sống nghèo nàn với tài sản đắt giá nhất là chiếc xe đạp cũ kỹ. Vợ ông Tiến sĩ Tâm lý Giáo dục Nguyễn Thị Nhì, bị áp lực của Đảng và Nhà Nước đã ly dị ông để kết hôn với Nguyễn Khắc Viện, một người bạn thân của ông hồi ở Pháp. Bác sĩ Viện lúc ấy đang là con cưng của Đảng.

Nhà nghiên cứu Triết học Marxist, giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo đã sống trong tăm tối nghèo khổ cùng cực trong suốt 30 năm.

Sau khi Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền và tung ra chiêu bài cởi mở năm 1987, ông Thảo mới được viết trở lại. Lúc này ông đã già. Năm 1991, ông được cho qua Pháp ngắn hạn. Hết hạn, ông vẫn ở lại, sống vô cùng túng quẩn. Bị cúp tiền, ông lén nấu ăn lấy thì bị cúp gas, cúp điện. Thấy vậy, Hội những Nhà khoa học Pháp (Société des Hommes de Sciences) để tỏ lòng ngưỡng mộ đã quyết định trợ cấp cho ông vô hạn định mỗi tháng 10.000 Francs (khoảng 2.000 USD). Nhưng ông vừa nhận được tấm ngân phiếu đầu tiên vào hôm trước, thì hôm sau ông qua đời.

Cái chết của triết gia Trần Đức Thảo đã để lại cho chúng ta một tấm gương của một nhà trí thức không cúi đầu trước sai lầm của những người đang nắm giữ quyền lực. Và qua cái chết của ông, trong hoàn cảnh vô cùng túng quẩn đã cho mọi người thấy sự giả trá, bịp bợm cùng cực của Cộng sản Hà Nội qua bản thông báo của họ: “Được Đại sứ quán của nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc…” Câu nói láo trắng trợn này được Đại sứ Hà Nội Trịnh Ngọc Thái đọc lên một cách hết sức trơn tru khiến người ta phải nóng mặt.

Lại càng nóng mặt hơn khi nghe Tố Hữu giở giọng “đĩ già đi tu” nói láo một cách trắng trợn, thô bỉ về những người thuộc nhóm Nhân văn – Giai phẩm đã bị chính mình làm cho cuộc đời bị “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày”.

“… Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu và sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong lãnh vực triết học. Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường đã góp phần khẳng định vị trí tiên phong của đội ngũ trí thức cách mạng kiệt xuất và hùng mạnh”.

Đúng là nói dối như… Tố Hữu!

LÃO MÓC