Ngô Tự Lập
(Nhà thơ, nguyên Giám đốc Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh)
Sau một thời gian ngắn ngủi tương đối yên ổn, một lần nữa đất nước ta lại phải đối mặt với họa xâm lăng. Đâu là kế sách chống lại quân xâm lược? Ai cũng thấy rằng sự nổi giận không đủ, chúng ta cần phải có những chiến lược, sách lược tỉnh táo và thông minh cả trong đối nội lẫn đối ngoại. Ai cũng thấy rằng một nền quốc phòng vững mạnh chỉ có thể có nếu đựa trên sự phát triển và thịnh vượng của đất nước trong mọi lĩnh vực, như kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội. Nhưng cái gốc sâu xa nhất và vững chắc nhất, đó là sự đoàn kết của toàn dân tộc. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với những chiến công hiển hách chứng minh điều đó. Vì thế, tôi nghĩ đã đến lúc Quốc hội phải nhanh chóng ban hành Luật Đoàn kết dân tộc.
Tại sao phải ban hành Luật đoàn kết dân tộc trong khi chúng ta đã có một số chính sách ít nhiều liên quan đến vấn đề này?
Chúng ta cần Luật Đoàn kết dân tộc do tính chính danh của nó. Mặc dù Quốc hội ở đâu cũng do một hay một vài chính đảng cụ thể chiếm đa số, tiếng nói của Quốc hội, thể hiện qua Hiến pháp và Luật, vẫn được coi là tiếng nói của người dân, là ý chí của dân tộc, chứ không phải là tiếng nói của một đảng hay một phe phái cụ thể. Các chính đảng có thể cầm quyền dài hay ngắn, nhưng giá trị của Luật, với tư cách là ý chí của dân tộc, không phụ thuộc vào độ dài thời gian cầm quyền của các chính đảng.
Cũng cần phải lưu ý rằng Luật Đoàn kết dân tộc không phải là nhằm thu hút Việt kiều. Luật Đoàn kết dân tộc cần thiết ngay cả khi không có Việt kiều. Luật Đoàn kết dân tộc cũng không phải là một sách lược vụ lợi ngắn hạn, mà phải là ý chí đoàn kết lâu dài và cao thượng của dân tộc. Nếu không thể hiện được tinh thần và các giá trị cao thượng mà mọi người Việt Nam đều chấp nhận và trân trọng, thì chính sách không thể đoàn kết được người dân, dù ở trong nước hay ngoài nước, thậm chí ngay cả những người đang tham gia bộ máy cầm quyền. Mặc dù được gọi tên bằng những cách khác nhau, Luật Đoàn kết dân tộc chính là cách mà cha ông ta nhiều lần sử dụng như là kế sâu rễ bền gốc, là nền tảng của sức mạnh quốc gia.
Luật Đoàn kết dân tộc phải như thế nào?
Tất nhiên, việc xây dựng luật phải do một tập thể bao gồm các chuyên gia và những nhà hoạch định chính sách có thẩm quyền thực hiện, nhưng chắc chắn nó phải được xác lập trên nguyên tắc nền tảng: Thượng tôn lợi ích dân tộc. Nói cách khác, phải đặt lợi ích dân tộc lên trên mọi lợi ích nhóm, phe phái, giai cấp, tôn giáo, ý thức hệ… Trên cơ sở nguyên tắc cơ bản này, Luật sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mọi người Việt Nam (dĩ nhiên cần phải định nghĩa) trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Luật cũng sẽ mở đường cho việc đánh giá công bằng mọi đóng góp của mọi cá nhân trong mọi lĩnh vực, từ văn hóa, nghệ thuật, khoa học đến kinh tế và quân sự, ngay cả trong trường hợp các cá nhân có quan điểm đối địch lẫn nhau, trong quá khứ cũng như tương lai. Bởi vì, nói cho cùng, tất cả những con người ấy đều là người Việt, và tất cả những gì đã diễn ra đều là lịch sử Việt Nam. Với một quan điểm thực sự cao thượng và vì lợi ích dân tộc như vậy, Luật đương nhiên cũng sẽ là luật hòa giải dân tộc.
Trong số những người có công với nước, tôi muốn nhắc đến trường hợp các quân nhân của quân đội Sài Gòn đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974. Rất nhiều người, trong đó có cá nhân tôi, tin rằng chúng ta nên sớm tôn vinh họ như những liệt sĩ quên mình vì nước. Cũng xin nói rằng việc tôn vinh công lao của những người khác chính kiến, thậm chí của kẻ thù không có gì là quá mới mẻ hay mâu thuẫn, mà là truyền thống lâu đời của dân tộc ta. Sĩ Nhiếp, viên quan cai trị do Trung Quốc phái đến, chẳng hạn, thậm chí được tôn vinh là “Nam Bang học tổ”. Trong lịch sử hiện đại, chúng ta cũng đã tiếp nhận và trọng dụng nhiều hàng binh, chúng ta đã hòa giải và kết bạn với Pháp, Nhật, Mỹ và cả Trung Quốc. Mới đây, chúng ta cũng hoan nghênh nhiệt liệt sự trở về và góp sức xây dựng đất nước của cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, tướng Nguyễn Cao Kỳ, một trong những chỉ huy cao nhất của những người lính đã ngã xuống vì Hoàng Sa.
Cá nhân tôi nghĩ rằng do nhiều lý do lịch sử, chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội để có một Luật đoàn kết dân tộc ngay sau năm 1975. Mặc dù đáng tiếc, chúng ta cũng không thể thay đổi quá khứ. Bây giờ, một cơ hội, đồng thời cũng là một yêu cầu cấp bách, lại đến và tôi thực sự tin tưởng rằng nếu chúng ta không bỏ lỡ, đây sẽ là khởi đầu cho một mùa xuân mới của đất nước trong đoàn kết và thịnh vượng.
Trong khi chờ đợi một Luật Đoàn kết dân tộc ra đời, tôi đề nghị xây dựng một Tượng đài Biển Đông với cùng thông điệp. Tôi không dám đi sâu vào vấn đề nghệ thuật điêu khắc, nhưng tôi hình dung một phiến đá lớn, vững chắc, đặt trên bệ mô phỏng hình nước Việt. Trên một mặt của phiến đá khắc bản đồ Việt Nam và Biển Đông, trên mặt kia khắc tên tất cả những người đã đóng góp xây dựng và bảo vệ Biển Đông của Tổ quốc, từ các vị đô đốc và chiến sĩ thời phong kiến, đến những liệt sĩ trong thời đại chúng ta – đặc biệt là những người lính của Lữ đoàn 125 trong kháng chiến chống Mỹ, những người lính hải quân Sài Gòn hy sinh tại Hoàng Sa năm 1974 và những người lính hải quân Nhân dân Việt Nam hy sinh năm 1988. Cùng với tượng đài là một cuốn sách chuyên về lịch sử khai phá, bảo vệ và phát triển Hoàng Sa Trường Sa. Ngoài thông điệp đoàn kết, tượng đài sẽ là một tài liệu sống động, rất có ích cho công việc giáo dục lịch sử và địa lý dân tộc cho các thế hệ mai sau.
Mặc dù đất nước ta còn nghèo, tôi không nghĩ rằng tài chính là một vấn đề đối với việc xây dựng một tượng đài như vậy, đặc biệt nếu so sánh với ý nghĩa và thông điệp của nó. Nhưng nếu sự đóng góp tài chính là cần thiết, tôi tin rằng rất nhiều cơ quan, công ty và cá nhân sẽ ủng hộ dự án. Cá nhân tôi, nếu có nhu cầu ủng hộ, tôi xin là người đóng góp đầu tiên, với số tiền là mười triệu đồng.
N. T. L.
Nguồn BoXitVN.
Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011
Thời khắc im lặng trước khi tiếng súng Biển Đông bùng lên!
KS Doãn Mạnh Dũng
Ngày 25-6-2011, Ban Chấp hành Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển Tp HCM họp. Trong cuộc họp có vài phóng viên đến dự. Ngoài việc chuyên môn nghề nghiệp, Hội nghị lo lắng về tình hình an ninh Biển Đông.
Trong Hội nghị, có người tâm đắc với bài viết của ông Nguyễn Trần Bạt gần 80 trang, với quan điểm: “Không gần Trung Quốc quá và cũng không xa phương Tây quá!”.
Tôi thật sự ngạc nhiên với quan điểm trên. Đó là giải pháp Việt Nam tự cô lập chính mình!
Chúng ta hãy cùng ôn lại bài học chiến tranh thế giới thứ II.
Ngày 23-8-1939, Đức ký Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Liên xô. Một tuần sau,ngày 1-9-1939 Đức phát xít tấn công Tây Ba Lan. Sau hai tuần, ngày 17-9-1939 Liên xô tấn công Đông Ba Lan và thủ tiêu 21.000 sỉ quan và trí thức Ba Lan tại Katyn. Hậu quả, lực lượng chống phát xít của Ba Lan suy yếu. Ngày 22-6-1941 Đức phát xít tấn công Liên Xô. Như thế, Liên xô vừa không ăn được cái bánh Ba Lan vừa phải hy sinh 25 triệu người, trong đó có 10 triệu lính. Sau 70 năm sau, Thủ tướng Nga phải xin lỗi người Ba Lan.
Mọi sự do dự và vụ lợi, hy vọng ăn theo hành động của bọn phát xít là tự chuốc họa cho chính loài người.
Thế giới hôm nay đang bước vào nền kinh tế trí thức. Đó là nền kinh tế buộc các quốc gia phải “phụ thuộc và liên kết lẫn nhau”. Mọi sự độc lập đều có tính tương đối. Chủ nghĩa tư bản xưa được mô tả là tàn ác và là kẻ thù không đội trời chung của giai cấp công nhân. Nhưng chủ nghĩa tư bản hiện đại hôm nay đang tăng dần tỷ trọng lợi nhuận từ nguồn tài nguyên trí tuệ của loài người. Nhờ vậy, nền kinh tế tư bản hiện đại có xu hướng hòa bình và được loài người chấp nhận. Nhà đại tư bản Bill Gates là thần tượng và là ước mơ của thanh niên Việt Nam. Bill Gates làm việc hết mình để cống hiến cho nhân loại; tiền thu được không phải để dùng thỏa mãn sự ham muốn vật chất của cá nhân mà được đầu tư để phát triển công nghệ cho sự tiến bộ của loài người và giúp người nghèo trên khắp thế giới. Chủ nghĩa tư bản như Bill Gates thật sự là lý tưởng cao đẹp mà loài người đang mơ ước và đang từng bước vươn đến. Khi ông Bill Gates đến Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam cảm thấy vinh dự, kể cả cố kéo dài động tác “bắt tay” với ông.
Ngược lại “chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc” đang chạy đua đi tìm nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, thủy sản, băng cháy… ở Biển Đông. Đối nội thì tàn sát sinh viên bằng xe tăng. Một Trung Quốc mới đang điên cuồng tìm tài nguyên là mầm mống của chế độ cực đoan phát xít.
Ngày 25-6-2011 Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải cảnh báo việc Mỹ ủng hộ đối tác ở Đông Nam Á: "Tôi tin rằng một số nước đang nghịch lửa. Và tôi hy vọng rằng Mỹ không bị bỏng vì ngọn lửa đó",
Như vậy Trung Quốc đã rút gươm và vấn đề chỉ còn là thời gian để chọn cơ hội chém xuống đầu người Việt Nam. Những lúc này, sự mơ hồ không phân rõ ranh giới giữa con người văn minh và mầm mống phát xít là thuốc kích thích để khuyến khích hành động của Trung Quốc.
Cô gái Việt Nam hôm nay không còn cái tuổi trăng tròn để liếc ngang, liếc dọc chọn lựa Đông hay Tây! Cô gái Việt Nam quá hiểu chủ thuyết nào là vì con người, yêu con người, chủ thuyết nào làm con người căm thù con người; mô hình kinh tế nào chỉ đem lại lợi ích cho một nhóm nhỏ và mô hình kinh tế nào vì lợi ích cho cả cộng đồng Việt Nam. Ai cũng hiểu, nhưng ai cũng thương cái tôi nhỏ nhoi và ích kỷ của chính mình. Sự sám hối sau khi về hưu thì còn hữu ích gì!
Những thời khắc im lặng trước khi tiếng súng Biển Đông bùng nổ, hy vọng những người có quyền lực của đất nước hãy vì trách nhiệm với tiền nhân mà có giải pháp hữu hiệu cứu đất nước lúc lâm nguy.
Thời gian không chờ chúng ta, nhân loại hảy cảnh giác!
D. M. D.
Nguồn BoXitVN.
Ngày 25-6-2011, Ban Chấp hành Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển Tp HCM họp. Trong cuộc họp có vài phóng viên đến dự. Ngoài việc chuyên môn nghề nghiệp, Hội nghị lo lắng về tình hình an ninh Biển Đông.
Trong Hội nghị, có người tâm đắc với bài viết của ông Nguyễn Trần Bạt gần 80 trang, với quan điểm: “Không gần Trung Quốc quá và cũng không xa phương Tây quá!”.
Tôi thật sự ngạc nhiên với quan điểm trên. Đó là giải pháp Việt Nam tự cô lập chính mình!
Chúng ta hãy cùng ôn lại bài học chiến tranh thế giới thứ II.
Ngày 23-8-1939, Đức ký Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Liên xô. Một tuần sau,ngày 1-9-1939 Đức phát xít tấn công Tây Ba Lan. Sau hai tuần, ngày 17-9-1939 Liên xô tấn công Đông Ba Lan và thủ tiêu 21.000 sỉ quan và trí thức Ba Lan tại Katyn. Hậu quả, lực lượng chống phát xít của Ba Lan suy yếu. Ngày 22-6-1941 Đức phát xít tấn công Liên Xô. Như thế, Liên xô vừa không ăn được cái bánh Ba Lan vừa phải hy sinh 25 triệu người, trong đó có 10 triệu lính. Sau 70 năm sau, Thủ tướng Nga phải xin lỗi người Ba Lan.
Mọi sự do dự và vụ lợi, hy vọng ăn theo hành động của bọn phát xít là tự chuốc họa cho chính loài người.
Thế giới hôm nay đang bước vào nền kinh tế trí thức. Đó là nền kinh tế buộc các quốc gia phải “phụ thuộc và liên kết lẫn nhau”. Mọi sự độc lập đều có tính tương đối. Chủ nghĩa tư bản xưa được mô tả là tàn ác và là kẻ thù không đội trời chung của giai cấp công nhân. Nhưng chủ nghĩa tư bản hiện đại hôm nay đang tăng dần tỷ trọng lợi nhuận từ nguồn tài nguyên trí tuệ của loài người. Nhờ vậy, nền kinh tế tư bản hiện đại có xu hướng hòa bình và được loài người chấp nhận. Nhà đại tư bản Bill Gates là thần tượng và là ước mơ của thanh niên Việt Nam. Bill Gates làm việc hết mình để cống hiến cho nhân loại; tiền thu được không phải để dùng thỏa mãn sự ham muốn vật chất của cá nhân mà được đầu tư để phát triển công nghệ cho sự tiến bộ của loài người và giúp người nghèo trên khắp thế giới. Chủ nghĩa tư bản như Bill Gates thật sự là lý tưởng cao đẹp mà loài người đang mơ ước và đang từng bước vươn đến. Khi ông Bill Gates đến Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam cảm thấy vinh dự, kể cả cố kéo dài động tác “bắt tay” với ông.
Ngược lại “chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc” đang chạy đua đi tìm nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, thủy sản, băng cháy… ở Biển Đông. Đối nội thì tàn sát sinh viên bằng xe tăng. Một Trung Quốc mới đang điên cuồng tìm tài nguyên là mầm mống của chế độ cực đoan phát xít.
Ngày 25-6-2011 Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải cảnh báo việc Mỹ ủng hộ đối tác ở Đông Nam Á: "Tôi tin rằng một số nước đang nghịch lửa. Và tôi hy vọng rằng Mỹ không bị bỏng vì ngọn lửa đó",
Như vậy Trung Quốc đã rút gươm và vấn đề chỉ còn là thời gian để chọn cơ hội chém xuống đầu người Việt Nam. Những lúc này, sự mơ hồ không phân rõ ranh giới giữa con người văn minh và mầm mống phát xít là thuốc kích thích để khuyến khích hành động của Trung Quốc.
Cô gái Việt Nam hôm nay không còn cái tuổi trăng tròn để liếc ngang, liếc dọc chọn lựa Đông hay Tây! Cô gái Việt Nam quá hiểu chủ thuyết nào là vì con người, yêu con người, chủ thuyết nào làm con người căm thù con người; mô hình kinh tế nào chỉ đem lại lợi ích cho một nhóm nhỏ và mô hình kinh tế nào vì lợi ích cho cả cộng đồng Việt Nam. Ai cũng hiểu, nhưng ai cũng thương cái tôi nhỏ nhoi và ích kỷ của chính mình. Sự sám hối sau khi về hưu thì còn hữu ích gì!
Những thời khắc im lặng trước khi tiếng súng Biển Đông bùng nổ, hy vọng những người có quyền lực của đất nước hãy vì trách nhiệm với tiền nhân mà có giải pháp hữu hiệu cứu đất nước lúc lâm nguy.
Thời gian không chờ chúng ta, nhân loại hảy cảnh giác!
D. M. D.
Nguồn BoXitVN.
KÊU GỌI ĐỒNG KHỞI XUỐNG ĐƯỜNG TUẦN HÀNH ÔN HÒA PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC TRÊN TOÀN QUỐC NGÀY 03/07/2011
Kính thưa đồng bào yêu nước!
Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, giặc Trung Quốc đã nhiều lần tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1974 chúng chiếm Hòang Sa, năm 1979 xua quân đánh 6 tỉnh biên giới phía Bắc, tiếp sức cho bọn diệt chủng Pôn Pốt đánh vào các tỉnh Tây Nam Việt Nam, năm 1988 đánh chiếm đảo Đá chữ thập và bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chúng ta có chấp nhận được không?
Mặc dù năm 1991 Trung Quốc đã ký với Việt Nam hiệp định hòa bình, tuyên bố láng giềng hữu nghị với 16 chữ vàng, 4 tốt. Nhưng thực tế, suốt từ đó đến nay, trong 20 năm qua, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn liên tục ngang ngược cho tàu ra ngăn cản, bắt tàu đánh cá, phạt vạ, trấn lột, cướp bóc tài sản, bắt và bắn giết hàng ngàn ngư dân vô tội của Việt Nam đang phải vất vả mưu sinh trên vùng biển của mình. Đó không gì khác hơn là hành động của kẻ cướp, xã hội đen. Chúng ta có chịu đựng được không?
Không dừng lại đó, với lòng tham không đáy của mình, Trung Quốc còn muốn thè cái lưỡi máu gian ác và xảo trá ra nuốt trọn vẹn biển Đông, kể cả vùng biển đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam đã được thế giới công nhận thông qua Công ước quốc tế về luật biển của LHQ. Vậy có khác nào mang dây ra căng gần hết đất có sổ đỏ của hàng xóm rồi cậy mạnh nhận bừa đó là đất của mình. Chúng ta có chấp nhận được không?
Ngày càng leo thang gây hấn, ngày 26 tháng 5 năm 2011, tàu hải giám Trung Quốc xông vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tấn công, cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh II của Việt Nam. Ngày 9 tháng 6 năm 2011, tàu Trung Quốc lại hung hãn xông vào cắt cáp tàu Viking II của chúng ta đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, với ý đồ xấu xa là biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam thành vùng đang tranh chấp để thực hiện cái gọi là “gác bỏ tranh chấp, cùng khai thác” với kiểu lấy sức mạnh đè người; áp đặt thô bạo đường lưỡi bò 9 đoạn trên Biển Đông mà không có cơ sở lịch sử, pháp lý nào. Việc làm này đã gây hại lớn cho Việt Nam ta, ngăn cản tự do hàng hải, và đang bị các nước trong khu vực và trên thế giới lên tiếng phản đối. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc đã vi phạm trắng trợn Luật Biển và Công ước về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 của Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc là thành viên Thường Trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc lẽ ra cần phải gương mẫu, vi phạm nghiêm trọng tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký năm 2002. Chúng ta có chịu đựng được không?
Nhân dân Việt Nam từ ngàn xưa đến nay luôn ưa chuộng hòa bình, tôn trọng lẽ phải, mong muốn được sống yên ổn, thậm chí đã phải nhân nhượng Trung Quốc nhiều lần. Như vậy mà Trung Quốc vẫn chưa vừa lòng tham, được đằng chân, lân đằng đầu. Chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới, vì chúng quyết tâm chiếm trọn vẹn cả hai quần đảo và vùng biển Đông của Việt Nam. Bất chấp đạo lý, luật pháp quốc tế, Trung Quốc quyết tâm cướp của nhà người khác thành của mình. Chúng ta có chấp nhận được không?
Không! Không! Không! Không đời nào người Việt Nam ta chấp nhận kiểu hành xử xã hội đen như vậy của Trung Quốc, đặc biệt là trong thế giới phẳng và hiện đại ngày hôm nay! Nhân dân Việt Nam, gần 90 triệu dân Việt Nam yêu nước chúng ta quyết tâm làm tất cả, nguyện đem tất cả sức mình để chống lại các hành động xâm lấn hiếu chiến của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất, biển, đảo của Việt Nam.
Liên tục trong 4 ngày chủ nhật vừa qua của tháng 6, hàng ngàn người dân Việt Nam yêu nước ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu cũng như ở nhiều quốc gia khác đã cùng đoàn kết xuống đường tuần hành phản đối những hành động vô nhân đạo của Trung Quốc. Qua đó đã gửi đến nhà cầm quyền Trung Quốc thông điệp rõ ràng về tinh thần đoàn kết, sự kiên quyết phản đối của nhân dân yêu nước Việt Nam. Tinh thần đoàn kết và phản kháng đó của nhân dân Việt Nam đã được hàng chục cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình của rất nhiều quốc gia trên khắp thế giới đưa tin và ngợi khen, chia sẻ.
Đấu tranh chống tư tưởng Đại Hán bá quyền và tư tưởng cướp đất nhà hàng xóm của Trung Quốc là một quá trình lâu dài, bền bỉ cần sự đoàn kết gắn bó của toàn bộ đồng bào yêu nước chúng ta. Tiếp tục hoạt động phản đối Trung Quốc, nhóm nhân sĩ, trí thức chúng tôi, gồm nhiều lứa tuổi, ở nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng đều chung tinh thần yêu nước và phản kháng, nhiệt liệt kêu gọi đồng bào ta, từ thanh niên, sinh viên, công chức đến người lao động v.v… cùng một buổi đồng khởi xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc trên khắp đất nước.
- Thời gian tuần hành: từ 8h30 đến 11h00 ngày 03/07/2011 (chủ nhật tới)
- Địa điểm:
+ ở Hà Nội: Đại sứ quán Trung Quốc: 46 Phố Hoàng Diệu, Quận Ba Đình; tập trung tại Vườn hoa Lênin;
+ Ở TP Hồ Chí Minh: Lãnh sự quán Trung Quốc: số 39 đường Nguyễn Thị Minh Khai (tập trung ở giữa công viên 30/04).
+ Tại các thành phố khác: đề nghị sắp xếp, bố trí ở trung tâm hoặc ở một địa điểm thích hợp.
Mục đích duy nhất của cuộc tuần hành là phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt gây hấn, yêu cầu nhà nước Trung Quốc bồi thường thiệt hại và dừng ngay các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
Để đảm bảo an toàn và sự thành công cho cuộc tuần hành, xin trân trọng để nghị đồng bào tham gia thực hiện nghiêm túc những điều sau:
- KHÔNG MANG bất kỳ vật nhọn, hung khí, chất có thể gây cháy, nổ, nào trong người để tránh bị hiểu nhầm là thành phần xấu.
- KHÔNG MANG bất kỳ biểu ngữ nào khác ngoài những biểu ngữ có nội dung “phản đối Trung Quốc”. Những khẩu hiệu gợi ý gồm: “PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC GÂY HẤN”, “TRƯỜNG SA, HOÀNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM”, “TRUNG QUỐC PHẢI CHẤM DỨT GÂY HẤN”, “TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO VIỆT NAM”, “TRẢ LẠI TRƯỜNG SA, HOÀNG SA”, “PHẢN ĐỐI ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI PHÁP”…v..v.. Các biểu ngữ này có thể viết bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc tiếng Trung, có thể in bạt, viết tay trên giấy khổ lớn hoặc in vi tính. Nên là những màu sắc dễ đọc, dễ gây chú ý.
- KHÔNG ĐƯỢC đốt cờ, chống trả lực lượng công an giữ trật tự, hay có những hành động quá khích, và không để cho các đối tượng xấu khác lợi dụng gây hành động phi pháp.
- KHUYẾN KHÍCH mang theo cờ Việt Nam, áo in màu cờ Việt Nam, ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh, ảnh đại tướng Võ Nguyên Giáp v..v..
HỠI ĐỒNG BÀO YÊU NƯỚC! CHÚNG TÔI KÊU GỌI ĐỒNG BÀO CÙNG XUỐNG ĐƯỜNG THAM GIA CUỘC TUẦN HÀNH ĐỒNG KHỞI TRÊN TOÀN QUỐC NGÀY 3/7/2011 NÀY. HÃY CÙNG HÒA NHỊP VÀO TIẾNG NÓI YÊU NƯỚC CỦA HÀNG NGÀN NGƯỜI ĐÃ VÀ SẼ THAM GIA!
XIN HÃY GIÚP CHÚNG TÔI CHUYỂN TIẾP LỜI KÊU GỌI NÀY TỚI BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN CỦA BẠN QUA NHỮNG PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN NHƯ TIN NHẮN SMS, EMAIL, YM, BLOG, FACEBOOK, TWITTER HOẶC KÊU GỌI TRỰC TIẾP V..V…
ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH! CHA ÔNG TA ĐÃ CHỨNG TỎ CHO GIẶC TÀU VÀ THẾ GIỚI THẤY ĐIỀU ĐÓ. HÃY ĐỪNG SỢ SỆT VÌ CHÚNG TA CÓ CHÍNH NGHĨA, CÙNG BẢO VỆ TỔ QUỐC!!!
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – Hồ Chí Minh.
CHÚC TẤT CẢ CHÚNG TA SỨC KHỎE VÀ CHÚC CUỘC TUẦN HÀNH THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP!
HẸN GẶP CÁC BẠN GIỜ G, TẠI ĐIỂM G :)) :))
VIỆT NAM MUÔN NĂM!!!
"Việt Nam hai tiếng tự hào
Đứng lên hành động, lẽ nào ngồi yên”.
Thay mặt gần 90 triệu đồng bào Việt Nam
Nhóm thanh niên yêu nước
-----------------------
Việt Nam hai tiếng tự hào
Anh em, chiến sĩ, đồng bào ta ơi
Đứng lên giữ lấy biển trời
Hoàng Sa là đảo của người Việt Nam
Phản đối cái lũ tham lam
Âm mưu chiếm lấy nước Nam của mình
Đấu tranh, vận động, biểu tình
Công nhân, viên chức, học sinh một lòng
Việt Nam ta tồn hay vong
Đều nhờ đoàn kết một lòng của dân
Đừng lo cho cái bản thân
Mà lo cho nước là cần thiết hơn.
Việt Nam một dải giang sơn
Đang chờ các bạn trả ơn lúc này
con rồng cháu lạc hôm nay
Quyết tâm làm được điều này mới thôi
Biển, trời tổ quốc ta ơi.
Việt Nam hai tiếng ngàn đời còn vang.
(thơ sưu tầm)
Nhóm Thanh Niên Yêu Nước
Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011
Pháp: Tọa đàm chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông
Buổi tọa đàm "Thách thức địa chiến lược ở Đông Nam Á và những tranh chấp ở Biển Đông" vừa diễn ra ngày 28/6 tại Paris, với sự tham dự của đông đảo bạn bè Pháp, cộng đồng người Việt tại Paris và vùng phụ cận.
Tọa đàm do Hội hữu nghị Pháp-Việt (AAFV), Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và một số hội đoàn phối hợp tổ chức.
Trước những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực biển Đông, nhiều bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình, trong đó có phó giáo sư, tiến sỹ Luật quốc tế Joële Nguyễn Duy Tân, mong muốn góp thêm tiếng nói, nêu ra những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý rõ ràng, vững chắc, nhằm khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mở đầu buổi tọa đàm, các đại biểu tham dự được xem bộ phim tài liệu do ông André Menras, mang quốc tịch Việt Nam dưới tên gọi Hồ Cương Quyết, thực hiện, phản ánh cuộc sống của ngư dân vùng biển huyện Bình Sơn, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).
Nội dung bộ phim cho thấy dù còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức ngoài biển khơi, song người ngư dân miền Trung vẫn quyết tâm bám biển sản xuất, quyết giữ chủ quyền biển đảo.
Hình ảnh chân thực, sống động về những người vợ mất chồng, người con mất cha trong những lần đi biển vì cuộc mưu sinh và cũng vì vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cùng những tâm sự của họ đã khiến nhiều người xem phải xúc động.
Ông André Menras cho biết những gì ông đã và đang làm là vì tình yêu tha thiết đối với Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân Việt Nam trong bất cứ tình huống nào.
Trong phần trình bày về những thách thức ở Biển Đông, bà Joële Nguyễn Duy Tân nhấn mạnh tới các thách thức về kinh tế, chính trị dẫn tới các tranh chấp biên giới trên biển. Bà Joële cho rằng Biển Đông là khu vực có ý nghĩa sống còn về địa chiến lược, kinh tế, giao thông và an ninh hàng hải đối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt với Việt Nam.
Với lối trình bày cô đọng, hệ thống, bà Joële đã giúp người nghe hiểu rõ hơn về tiến trình ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, làm rõ các khái niệm pháp lý về các vùng nước thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển như lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.
Bà viện dẫn các quy định của pháp luật quốc tế, cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh tính đúng đắn trong đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam.
Phần trình bày của bà Joële Nguyễn Duy Tân đã nhận được sự chia sẻ, tán đồng của người tham gia tọa đàm. Nhiều ý kiến phát biểu, với một số câu hỏi liên quan đã được bà Joële và những đại diện có hiểu biết về tình hình Biển Đông giải đáp cụ thể.
Trong khuôn khổ cuộc tọa đàm, AAFV đã ra tuyên bố, bày tỏ sự quan ngại về những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực Biển Đông và kêu gọi các bên liên quan không sử dụng vũ lực, thông qua con đường thương lượng trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm giảm căng thẳng, duy trì sự ổn định trong khu vực./.
T. D.
Nguồn: Vietnamplus.vn
Tọa đàm do Hội hữu nghị Pháp-Việt (AAFV), Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và một số hội đoàn phối hợp tổ chức.
Trước những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực biển Đông, nhiều bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình, trong đó có phó giáo sư, tiến sỹ Luật quốc tế Joële Nguyễn Duy Tân, mong muốn góp thêm tiếng nói, nêu ra những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý rõ ràng, vững chắc, nhằm khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mở đầu buổi tọa đàm, các đại biểu tham dự được xem bộ phim tài liệu do ông André Menras, mang quốc tịch Việt Nam dưới tên gọi Hồ Cương Quyết, thực hiện, phản ánh cuộc sống của ngư dân vùng biển huyện Bình Sơn, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).
Nội dung bộ phim cho thấy dù còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức ngoài biển khơi, song người ngư dân miền Trung vẫn quyết tâm bám biển sản xuất, quyết giữ chủ quyền biển đảo.
Hình ảnh chân thực, sống động về những người vợ mất chồng, người con mất cha trong những lần đi biển vì cuộc mưu sinh và cũng vì vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cùng những tâm sự của họ đã khiến nhiều người xem phải xúc động.
Ông André Menras cho biết những gì ông đã và đang làm là vì tình yêu tha thiết đối với Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân Việt Nam trong bất cứ tình huống nào.
Trong phần trình bày về những thách thức ở Biển Đông, bà Joële Nguyễn Duy Tân nhấn mạnh tới các thách thức về kinh tế, chính trị dẫn tới các tranh chấp biên giới trên biển. Bà Joële cho rằng Biển Đông là khu vực có ý nghĩa sống còn về địa chiến lược, kinh tế, giao thông và an ninh hàng hải đối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt với Việt Nam.
Với lối trình bày cô đọng, hệ thống, bà Joële đã giúp người nghe hiểu rõ hơn về tiến trình ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, làm rõ các khái niệm pháp lý về các vùng nước thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển như lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.
Bà viện dẫn các quy định của pháp luật quốc tế, cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh tính đúng đắn trong đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam.
Phần trình bày của bà Joële Nguyễn Duy Tân đã nhận được sự chia sẻ, tán đồng của người tham gia tọa đàm. Nhiều ý kiến phát biểu, với một số câu hỏi liên quan đã được bà Joële và những đại diện có hiểu biết về tình hình Biển Đông giải đáp cụ thể.
Trong khuôn khổ cuộc tọa đàm, AAFV đã ra tuyên bố, bày tỏ sự quan ngại về những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực Biển Đông và kêu gọi các bên liên quan không sử dụng vũ lực, thông qua con đường thương lượng trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm giảm căng thẳng, duy trì sự ổn định trong khu vực./.
T. D.
Nguồn: Vietnamplus.vn
Mỹ - Phi tập trận: Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền trên Biển Đông
Chiến hạm USS Chung Hoon tham gia cuộc tập trận Hoa Kỳ - Philippines gần Trường sa. AFP
Phát biểu vào hôm nay, 29/6/2011, trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Văn phòng phụ trách Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Nghị, đã lại nhắc lại lập trường cố hữu của Trung Quốc. Theo ông Dương Nghị, Bắc Kinh có "chủ quyền không thể tranh cãi" trên các đảo tại Biển Đông và các vùng biển bao quanh.
Lời tái khẳng định chủ quyền bao quát được Trung Quốc nhắc lại, sau khi Hoa Kỳ cam kết giúp đỡ Philippines, một trong bốn nước Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh tại vùng quần đảo Trường Sa.
Từ hôm qua, hải quân Philippines và Hoa Kỳ đã khởi động một cuộc tập trận chung tại vùng biển Philippines gần quần đảo Trường Sa. Tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ, Phó Đô đốc Scott Van Buskirk, đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ và Philippines là "đồng minh" với nhau từ lâu và xác định: “Liên minh của chúng tôi dựa trên nền tảng một sự quan tâm sâu sắc và mang tính ràng buộc của Mỹ đến sự tự do và an ninh của nước Cộng hòa Philippines”.
Cả Washington lẫn Manila đều phủ nhận lập luận cho rằng cuộc tập trận Mỹ - Phi có liên quan đến tình hình căng thẳng gần đây trong vùng Biển Đông, sau một loạt những hành động áp đặt đòi hỏi chủ quyền thô bạo của Bắc Kinh nhắm vào Philippines và Việt Nam.
Philippines và Việt Nam đã cực lực phản đối và tố cáo các hành vi hung hăng của Trung Quốc. Bắc Kinh một mặt lặp lại chủ trương giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình, nhưng một mặt khác vẫn tuyên bố chủ quyền của họ trên hầu hết Biển Đông, ngay cả tại các vùng biển trên nguyên tắc thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á.
Trung Quốc và Đài Loan hợp sức trong vấn đề Biển Đông?
Ngoài Philippines và Việt Nam, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông còn liên quan đến cả Malaysia, Brunei, và Đài Loan. Trong tuyên bố vào hôm nay, phát ngôn viên Trung Quốc còn hàm ý kêu gọi Đài Loan hợp sức với mình để bảo về các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Theo Tân Hoa Xã, ông Dương Nghị đã cho rằng việc bảo vệ chủ quyền là một "trách nhiệm chung" của mọi người Trung Hoa sinh sống hai bên eo biển Đài Loan.
Đây không phải là lần đầu tiên mà chính quyền Bắc Kinh tìm cách lôi kéo Đài Bắc. Theo nhật báo South China Morning Post tại Hồng Kông, ông Dương Nghị đã có lời kêu gọi tương tự hôm 15/6, khi cả Trung Quốc lẫn Ðài Loan đều tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
Phát biểu vào hôm nay, 29/6/2011, trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Văn phòng phụ trách Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Nghị, đã lại nhắc lại lập trường cố hữu của Trung Quốc. Theo ông Dương Nghị, Bắc Kinh có "chủ quyền không thể tranh cãi" trên các đảo tại Biển Đông và các vùng biển bao quanh.
Lời tái khẳng định chủ quyền bao quát được Trung Quốc nhắc lại, sau khi Hoa Kỳ cam kết giúp đỡ Philippines, một trong bốn nước Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh tại vùng quần đảo Trường Sa.
Từ hôm qua, hải quân Philippines và Hoa Kỳ đã khởi động một cuộc tập trận chung tại vùng biển Philippines gần quần đảo Trường Sa. Tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ, Phó Đô đốc Scott Van Buskirk, đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ và Philippines là "đồng minh" với nhau từ lâu và xác định: “Liên minh của chúng tôi dựa trên nền tảng một sự quan tâm sâu sắc và mang tính ràng buộc của Mỹ đến sự tự do và an ninh của nước Cộng hòa Philippines”.
Cả Washington lẫn Manila đều phủ nhận lập luận cho rằng cuộc tập trận Mỹ - Phi có liên quan đến tình hình căng thẳng gần đây trong vùng Biển Đông, sau một loạt những hành động áp đặt đòi hỏi chủ quyền thô bạo của Bắc Kinh nhắm vào Philippines và Việt Nam.
Philippines và Việt Nam đã cực lực phản đối và tố cáo các hành vi hung hăng của Trung Quốc. Bắc Kinh một mặt lặp lại chủ trương giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình, nhưng một mặt khác vẫn tuyên bố chủ quyền của họ trên hầu hết Biển Đông, ngay cả tại các vùng biển trên nguyên tắc thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á.
Trung Quốc và Đài Loan hợp sức trong vấn đề Biển Đông?
Ngoài Philippines và Việt Nam, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông còn liên quan đến cả Malaysia, Brunei, và Đài Loan. Trong tuyên bố vào hôm nay, phát ngôn viên Trung Quốc còn hàm ý kêu gọi Đài Loan hợp sức với mình để bảo về các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Theo Tân Hoa Xã, ông Dương Nghị đã cho rằng việc bảo vệ chủ quyền là một "trách nhiệm chung" của mọi người Trung Hoa sinh sống hai bên eo biển Đài Loan.
Đây không phải là lần đầu tiên mà chính quyền Bắc Kinh tìm cách lôi kéo Đài Bắc. Theo nhật báo South China Morning Post tại Hồng Kông, ông Dương Nghị đã có lời kêu gọi tương tự hôm 15/6, khi cả Trung Quốc lẫn Ðài Loan đều tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc tăng cường sức ép trên Việt Nam sau khi Hà Nội tỏ thái độ hòa dịu trên vấn đề Biển Đông
Biểu tình tại Hà Nội ngày 05/06/2011
Reuters
Trọng Nghĩa
Ngày 28/06/2011, Trung Quốc đã kêu gọi Việt Nam thực hiện đầy đủ thỏa thuận trên vấn đề Biển Đông mà hai bên vừa đạt được. Theo giới quan sát, tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc mang ý nghĩa là một hành động gây sức ép của Bắc Kinh trên Hà Nội sau khi Việt Nam tỏ dấu hiệu hòa hoãn.
Trong một cuộc họp báo chiều hôm qua tại Bắc Kinh, ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhắc lại rằng nhân chuyến viếng thăm của đặc sứ Việt Nam Hồ Xuân Sơn, ngày 25/06, hai bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán và tránh những động thái có thể làm vấn đề trầm trọng hay phức tạp thêm.
Theo đại diện Trung Quốc, cả hai nước đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và cam kết sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước ».
Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng thúc giục Việt Nam thực hiện các cam kết trong thỏa thuận : « Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ cùng với chúng tôi thực hiện đầy đủ sự nhất trí đã có được những nỗ lực gìn giữ hòa bình và ổn định trên Biển Hoa Nam (Biển Đông).”
Đối với giới quan sát, lời thúc giục của Bắc Kinh là một hành động gây sức ép mới, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền Việt Nam đã có những dấu hiệu bị coi là nhún nhường, cho dù đã liên tiếp bị Trung Quốc bức bách ngay tại vùng biển vốn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình trong thời gian gần đây.
Một trong những điểm mà Trung Quốc muốn Việt Nam thực hiện là đẩy mạnh các cuộc đàm phán song phương với họ để giải quyết tranh chấp, một điều mà bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh trong những ngày qua không ngừng nêu bật khi cực lực chỉ trích ý định của Mỹ muốn can dự vào hồ sơ Biển Đông.
Báo chí Trung Quốc đã đồng loạt nhấn mạnh đến sự kiện là nhân chuyến công du vừa qua của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam ».
Theo nhà báo Mỹ David Brown, nguyên là một nhà ngoại giao, việc Việt Nam tham gia vào các cuộc ‘’đàm phán song phương’’ với Trung Quốc, ‘’có vẻ như là một bước lùi’’ sau hàng tháng trời nhấn mạnh rằng mọi cuộc thương thuyết nên được tiến hành trong khuôn khổ ASEAN. Theo ông Brown, động thái này có thể làm cho công luận Việt Nam thêm bất bình.
Một điểm khác mà Bắc Kinh muốn chính quyền Việt Nam thực hiện là ngăn cản các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở trong nước (mà chính quyền Việt Nam đã hạn chế đến mức tối đa) cũng như ở ngoài nước, vốn không tốt cho hình ảnh của Bắc Kinh trên trường quốc tế.
Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra vào hôm nay là áp lực của Trung Quốc lúc này liệu có hữu hiệu hay không, khi mà trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đã nhiều lần tuyên bố thiện chí, nhưng ngay sau đó lại có những hành động hù dọa Hà Nội.
Thí dụ gần đây nhất là vụ tàu Viking II bị tàu cá Trung Quốc sách nhiễu, chỉ vài ngày sau phát biểu hữu hảo của bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tại cuộc Đối thoại an ninh Shangri La ở Singapore vào thượng tuần tháng sáu.
Tham vọng của Bắc Kinh trước sau như một. Tân Hoa Xã vào hôm qua đã lại nêu bật rằng Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở Biển Đông và những vùng biển xung quanh.
Hãng tin nhà nước Trung Quốc cũng không ngần ngại nhắc lại sự kiện mà họ cho là vào năm 1958, Bắc Kinh đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Đông thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc và chính cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao của mình gửi tới đồng nhiệm Trung Quốc khi đó.
Philippines thách thức Trung Quốc bằng kế hoạch cho phép thăm dò dầu khí tại Biển Đông
Biểu tình tại Manila ngày 16/06/2011 phản đối Trung Quốc thâm nhập vùng biển của Philippines"
Reuters
Trọng Nghĩa
Trong một bản thông cáo công bố hôm nay, 29/06/2011, Bộ Năng lượng Philippines cho biết là sẽ cấp nhiều giấy phép hơn cho các công ty tư nhân để tìm kiếm dầu khí tại vùng Biển Đông. Theo Manila, tổng cộng 15 hợp đồng thăm dò, chủ yếu tại vùng biển ngoài khơi đảo Palawan (Tây Philippines) sẽ được đề nghị vào ngày mai cho các khách hàng tiềm tàng.
Bộ Năng lượng Philippines không cho biết chi tiết về vị trí các lô thăm dò, chỉ nói rằng vùng được phân lô này bao hàm khu vực Đông Palawan, thuộc Biển Đông, cũng như khu vực Tây Bắc Palawan và vùng lưu vực biển Sulu.
Bản thông cáo xác định là kế hoạch này nhằm thu hút đầu tư vào hoạt động thăm dò dầu khí, góp phần thực hiện mục tiêu nâng mức tự chủ năng năng lượng của Philippines lên ngưỡng 60%. Theo bản thông cáo : "Các đại công ty dầu khí độc lập của quốc tế... đã bày tỏ sự quan tâm đến việc đấu thầu khai thác các lô khác nhau."
Theo các nhà quan sát, quyết định mời nhiều tập đoàn quốc tế tham gia thăm dò dầu khí ngoài khơi Philippines có thể được xem là một phản ứng cứng rắn của Manila sau một loạt những hành động hù dọa của Bắc Kinh. Trong số các hành vi này, có cả việc Trung Quốc cho tàu đột nhập vào vùng Reed Bank, xua đuổi một chiếc tàu thăm dò dầu khí cho Philippines.
Đối với Manila, vùng này thuộc chủ quyền của Philippines, nhưng lại bị Trung Quốc tranh chấp, tương tự như 80% vùng Biển Đông.
Hành động hung hăng của Trung Quốc đã buộc Tổng thống Philippines Benigno Aquino phải lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ giúp đỡ để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc trong khu vực. Ông Aquino đã công khai thừa nhận rằng nước ông quá yếu để một mình chống chọi với Bắc Kinh.
Nguồn RFI.
Mục tiêu chống TầuCộng xâm lược, chống ViệtCộng bán nước tuy hai mà một
Trước hành động hung hãn của Tầucộng, quyết dùng lực lượng hải thuyền của họ, lấn chiếm các vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng, có thềm lục địa tại Biển Đông để xác định chủ quyền ‘lưỡi bò’ chiếm 80% diện tích tại lãnh hải Đông Nam Á, đã vô tình, hoặc có thể là cố ý kéo Hoakỳ, một siêu cường đại dương vào đứng chung với các nước Đông Nam Á và Á châu. Ngoài những lời tuyên bố của giới ngoại giao Mỹ, về “Vai trò lãnh đạo của Mỹ tại Châu Á- Thái Bình Dương là thiết yếu cho lợi ích quốc gia lâu dài của Hoakỳ”. Hạm đội của Mỹ luôn luôn hiện diện tại vùng Tây Thái Bình Dương và trong Biển Đông. Tập trận chung với Philippines, kể cả với Việtnam là nước vốn nằm trong vòng tay của Bắckinh. Tuy nhiên lúc nào Hoakỳ cũng chủ trương tránh dùng vũ lực, mà chỉ dùng giải pháp đa phương để giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông. Nhưng việc hiếu chiến của báo giới Tầucộng luôn luôn đe dọa tiến đánh Việtnam, và việc động binh của Tầucộng, Việtcộng, Philippines và cả của Hoakỳ nữa, đã làm cho dư luận thế giới quan ngại về một cuộc chiến tranh mang tầm quốc tế có thể xẩy ra.
Tuy nhiên trên thực tế, chính giới chức quân sự Tầucộng đã thừa nhận về mặt quân sự Tầucộng còn thua kém Hoakỳ quá xa. Hai nước vừa nối lại mối giao hảo. Hai nền kinh tế Mỹ, Tầu đang phải cần có nhau, dù Tầu là chủ nợ của Mỹ, nhưng Tầu vẫn ở thế hạ phong, vì thị trường của Mỹ là nguồn sống chính của nền kỹ nghệ gia dụng Tầu. Chỉ cần một lệnh hành chánh, tạm ngưng nhập cảng hàng hóa Tầu vào Mỹ là nước Tầu đại loạn. Lúc đó Mỹ không cần đánh, mà Tầu tự tan thành nhiều mảnh. Chính vì vậy, mà việc động binh của các phiá chỉ là để biểu dương lực lượng, đe dọa nhau, để quốc tế quan tâm, buộc nhau phải ngồi xuống đối thoại. Từ xưa tới nay, Tầu chỉ muốn đối thoại song phương để dễ bắt nạt các nước yếu, nhất là với đàn em Việtcộng. Tại sao bây giờ lại tạo điều kiện cho Mỹ dính vô, để vấn đề trở thành đa phương? Thực ra, chẳng phải đợi đến khi các chuyên gia thượng thặng về luật biển dự Hội Thảo về Biển Đông tại Hoa Thịnh Đốn, ngày 20-21/06/2011, đồng thanh chỉ ra rằng: “Nước Tầu không có cơ sở pháp lý để nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông”. Người Tầu dù tối dạ cách mấy cũng đã biết ra là, họ thường cả vú lấp miệng em, nhận láo vùng biển lưỡi bò thuộc chủ quyền của họ. Vì Công Ước Liên Hiệp Quốc 1982, không thừa nhận đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo không có dân cư sinh sống, không có sông suối. Đặc quyền kinh tế 200 hải lý chỉ thuộc về các nước có thềm lục địa ở ven biển. Đây có lẽ chính là lý do khiến Tầu buộc lòng phải mời ông bạn Mỹ vào Biển Đông để làm trung gian giàn xếp cho việc khai thác dầu khí tại Biển Đông, với các nước có chủ quyền thềm lực địa thực sự, qua hình thức liên doanh của các công ty đa quốc gia, trong đó có phần hùn của Tầu, nhằn cung cấp dầu khí cho Hoalục. Thay vì lệ thuộc vào nguồn dầu khí từ TrungĐông BắcPhi đang nằm trong tay của Mỹ và EU.
Nhằm che dấu thế yếu kém của mình, Bắckinh đã cho giới truyền thông, nhất là qua lời phát biểu của giới quân sự hiếu chiến để đe dọa Việtnam, đại loại như, ngày 25/06/11, tướng Bành Quang Khiêm, phó tổng thư ký ủy ban chính sách an ninh quốc gia, hội Nghiên Cứu Khoa Học Chính Sách Trungquốc, đã ngạo mạn tuyên bố: “Trungquốc từng dậy Việtnam một bài học, và có thể cho Việtnam bài học lớn hơn nữa”. Khiêm không quên đổ lổi cho Việtnam và Philippines gần đây ‘liên tục khiêu khích’. Bành quang Khiêm còn dùng những ngôn từ khích động rằng: “Nếu Việtnam tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi dao, sớm muộn có ngày Việtnam sẽ ngã trên lưỡi dao”. Đúng ngày hôm đó, thứ trưởng ngoại giao Việtcộng, Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việtcộng gặp ủy viên quốc vụ viện Tầucộng, Đới Bỉnh Quốc về quan hệ 2 nước và tình hình Biển Đông. Hai bên cùng nhai lại 16 chữ vàng và 4 tốt. “Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hoà bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hoà bình và ổn định tại Biển Đông, tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước, đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm kết ký kết “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việtnam – Trungquốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và công việc tìếp theo, cố gắng sớm đạt tiến trển thực chất”. Có nghĩa là Việtcộng đã chấp thuận thoả hiệp song phương với Tầucộng, để ký kết dâng thềm lục điạ của mình cho Tầu trước. Rồi sau đó cùng đứng chung một phía với Tầu để thảo luận đa phương với các nước trong vùng và Mỹ, theo tuyên bố DOC sau.
Cùng ngày 25/06/2011 trong cuộc họp giữa Hoakỳ và Tầucộng tại Honolulu Hawaii, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương, Kurt Campbell tuyên bố: “Chúng tôi muốn căng thẳng giảm bớt”. “Chúng tôi rất quan tâm duy trì hòa bình và ổn định. Và chúng tôi đang tìm kiếm đối thoại giữa các quốc gia chủ chốt”. Sau cuộc họp kín với Tầu, ông nói với báo chí rằng: “Phái đoàn Mỷ đã nhấn mạnh, việc mở rộng phát triển quân sự của Trungquốc gây quan ngại, nhưng hy vọng rằng đối thoại và một sự tăng cường minh bạch sẽ giúp làm giảm các lo lắng này”. Ngày 27/06/2011 Thượng Nghị Viện Hoakỳ đã nhất trí thông qua một nghị quyết S. Res 217 lên án việc sử dụng vũ lực gần đây của các tàu Trungquốc trong các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông với Việtnam và Philippines. Kêu gọi thực hiện “tiến trình đa phương, ôn hòa để giải quyết các bất đồng”. Nghị quyết này do 4 nghị sĩ trình lên Thượng Viện ngày 13/06/11, gồm NS Jim Webb đảng Dân Chủ, NS James Inhofe đảng Cộng Hoà, NS Joseph Lieberman đảng Dân Chủ, NS Daniel Inouye đảng Dân Chủ.
Xem ra Tầucộng đã hiểu không thể làm ngược lại với chủ trương của Mỹ, nên đã nhanh tay tóm cổ tên đàn em Việtcộng trở lại, bắt ký kết dâng thêm quyền hợp tác khai thác dầu khí tại thềm lục điạ Việtnam, ăn hớt tay trên của Mỹ. Đây lại là một mối nguy hiểm mới xuất hiện trong vấn đề bang giao Mỹ-Việt, cộng thêm với mối nguy hiểm lâu nay đã có giữa Việtcộng với Tầucộng, qua việc Việtcộng tạo điều kiện cho Tầucộng trúng thầu tới 90% các công trình trọn gói về sản xuất năng lượng, khai thác nguyên liệu, và cho thuê rừng đầu nguồn. Để cho Tầucộng đưa dân Tầu sang, tạo ra các Thái Ấp, các Phố Tầu trên đất Việt, nhằm thống trị người Việt, giống như ngày xưa vua nhà Nguyên tạo ra các Thái Ấp của Người Mông Cổ để cai trị toàn dân Trung Hoa. Vậy việc toàn dân trong, ngoài nước hiện nay đang phát động cao trào “Chống Tầucộng Xâm Lược”, đừng quên “Chống Việtcộng Bán Nước” thì mới cứu nổi nước. Vì kẻ “Nội Thù” bao giờ cũng nguy hiểm hơn kẻ “Ngoại Xâm”.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 28/06/2011.
Tuy nhiên trên thực tế, chính giới chức quân sự Tầucộng đã thừa nhận về mặt quân sự Tầucộng còn thua kém Hoakỳ quá xa. Hai nước vừa nối lại mối giao hảo. Hai nền kinh tế Mỹ, Tầu đang phải cần có nhau, dù Tầu là chủ nợ của Mỹ, nhưng Tầu vẫn ở thế hạ phong, vì thị trường của Mỹ là nguồn sống chính của nền kỹ nghệ gia dụng Tầu. Chỉ cần một lệnh hành chánh, tạm ngưng nhập cảng hàng hóa Tầu vào Mỹ là nước Tầu đại loạn. Lúc đó Mỹ không cần đánh, mà Tầu tự tan thành nhiều mảnh. Chính vì vậy, mà việc động binh của các phiá chỉ là để biểu dương lực lượng, đe dọa nhau, để quốc tế quan tâm, buộc nhau phải ngồi xuống đối thoại. Từ xưa tới nay, Tầu chỉ muốn đối thoại song phương để dễ bắt nạt các nước yếu, nhất là với đàn em Việtcộng. Tại sao bây giờ lại tạo điều kiện cho Mỹ dính vô, để vấn đề trở thành đa phương? Thực ra, chẳng phải đợi đến khi các chuyên gia thượng thặng về luật biển dự Hội Thảo về Biển Đông tại Hoa Thịnh Đốn, ngày 20-21/06/2011, đồng thanh chỉ ra rằng: “Nước Tầu không có cơ sở pháp lý để nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông”. Người Tầu dù tối dạ cách mấy cũng đã biết ra là, họ thường cả vú lấp miệng em, nhận láo vùng biển lưỡi bò thuộc chủ quyền của họ. Vì Công Ước Liên Hiệp Quốc 1982, không thừa nhận đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo không có dân cư sinh sống, không có sông suối. Đặc quyền kinh tế 200 hải lý chỉ thuộc về các nước có thềm lục địa ở ven biển. Đây có lẽ chính là lý do khiến Tầu buộc lòng phải mời ông bạn Mỹ vào Biển Đông để làm trung gian giàn xếp cho việc khai thác dầu khí tại Biển Đông, với các nước có chủ quyền thềm lực địa thực sự, qua hình thức liên doanh của các công ty đa quốc gia, trong đó có phần hùn của Tầu, nhằn cung cấp dầu khí cho Hoalục. Thay vì lệ thuộc vào nguồn dầu khí từ TrungĐông BắcPhi đang nằm trong tay của Mỹ và EU.
Nhằm che dấu thế yếu kém của mình, Bắckinh đã cho giới truyền thông, nhất là qua lời phát biểu của giới quân sự hiếu chiến để đe dọa Việtnam, đại loại như, ngày 25/06/11, tướng Bành Quang Khiêm, phó tổng thư ký ủy ban chính sách an ninh quốc gia, hội Nghiên Cứu Khoa Học Chính Sách Trungquốc, đã ngạo mạn tuyên bố: “Trungquốc từng dậy Việtnam một bài học, và có thể cho Việtnam bài học lớn hơn nữa”. Khiêm không quên đổ lổi cho Việtnam và Philippines gần đây ‘liên tục khiêu khích’. Bành quang Khiêm còn dùng những ngôn từ khích động rằng: “Nếu Việtnam tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi dao, sớm muộn có ngày Việtnam sẽ ngã trên lưỡi dao”. Đúng ngày hôm đó, thứ trưởng ngoại giao Việtcộng, Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việtcộng gặp ủy viên quốc vụ viện Tầucộng, Đới Bỉnh Quốc về quan hệ 2 nước và tình hình Biển Đông. Hai bên cùng nhai lại 16 chữ vàng và 4 tốt. “Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hoà bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hoà bình và ổn định tại Biển Đông, tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước, đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm kết ký kết “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việtnam – Trungquốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và công việc tìếp theo, cố gắng sớm đạt tiến trển thực chất”. Có nghĩa là Việtcộng đã chấp thuận thoả hiệp song phương với Tầucộng, để ký kết dâng thềm lục điạ của mình cho Tầu trước. Rồi sau đó cùng đứng chung một phía với Tầu để thảo luận đa phương với các nước trong vùng và Mỹ, theo tuyên bố DOC sau.
Cùng ngày 25/06/2011 trong cuộc họp giữa Hoakỳ và Tầucộng tại Honolulu Hawaii, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương, Kurt Campbell tuyên bố: “Chúng tôi muốn căng thẳng giảm bớt”. “Chúng tôi rất quan tâm duy trì hòa bình và ổn định. Và chúng tôi đang tìm kiếm đối thoại giữa các quốc gia chủ chốt”. Sau cuộc họp kín với Tầu, ông nói với báo chí rằng: “Phái đoàn Mỷ đã nhấn mạnh, việc mở rộng phát triển quân sự của Trungquốc gây quan ngại, nhưng hy vọng rằng đối thoại và một sự tăng cường minh bạch sẽ giúp làm giảm các lo lắng này”. Ngày 27/06/2011 Thượng Nghị Viện Hoakỳ đã nhất trí thông qua một nghị quyết S. Res 217 lên án việc sử dụng vũ lực gần đây của các tàu Trungquốc trong các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông với Việtnam và Philippines. Kêu gọi thực hiện “tiến trình đa phương, ôn hòa để giải quyết các bất đồng”. Nghị quyết này do 4 nghị sĩ trình lên Thượng Viện ngày 13/06/11, gồm NS Jim Webb đảng Dân Chủ, NS James Inhofe đảng Cộng Hoà, NS Joseph Lieberman đảng Dân Chủ, NS Daniel Inouye đảng Dân Chủ.
Xem ra Tầucộng đã hiểu không thể làm ngược lại với chủ trương của Mỹ, nên đã nhanh tay tóm cổ tên đàn em Việtcộng trở lại, bắt ký kết dâng thêm quyền hợp tác khai thác dầu khí tại thềm lục điạ Việtnam, ăn hớt tay trên của Mỹ. Đây lại là một mối nguy hiểm mới xuất hiện trong vấn đề bang giao Mỹ-Việt, cộng thêm với mối nguy hiểm lâu nay đã có giữa Việtcộng với Tầucộng, qua việc Việtcộng tạo điều kiện cho Tầucộng trúng thầu tới 90% các công trình trọn gói về sản xuất năng lượng, khai thác nguyên liệu, và cho thuê rừng đầu nguồn. Để cho Tầucộng đưa dân Tầu sang, tạo ra các Thái Ấp, các Phố Tầu trên đất Việt, nhằm thống trị người Việt, giống như ngày xưa vua nhà Nguyên tạo ra các Thái Ấp của Người Mông Cổ để cai trị toàn dân Trung Hoa. Vậy việc toàn dân trong, ngoài nước hiện nay đang phát động cao trào “Chống Tầucộng Xâm Lược”, đừng quên “Chống Việtcộng Bán Nước” thì mới cứu nổi nước. Vì kẻ “Nội Thù” bao giờ cũng nguy hiểm hơn kẻ “Ngoại Xâm”.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 28/06/2011.
'Những điều đáng phải nói ra từ lâu'
Mới đây, văn bản ghi lại cuộc phỏng vấn được nói là của Tiến sỹ Vũ Cao Phan, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, dành cho Đài Truyền hình Phượng Hoàng (Phoenix TV - trụ sở chính ở Hong Kong), đã thu hút sự chú ý đặc biệt của người quan tâm ở trong nước.
Trong bài phỏng vấn, chuyên gia về quan hệ Việt-Trung đã đề cập tới nhiều vấn đề trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, như yêu sách đàm phán song phương của Trung Quốc, hay thái độ của truyền thông Trung Quốc khi đưa tin bài về Việt Nam.
Bài phỏng vấn này đã được đăng trên một số tờ báo mạng của Việt Nam, được đón nhận một cách tích cực.
Tiến sỹ Phan nói ông cũng "không ngờ trước được hiệu ứng của bài phỏng vấn" khi nó được đăng tải ở Việt Nam, cho thấy các câu trả lời của ông đã "thỏa mãn được nhu cầu cần được biết của người đọc".
"Nhà nước Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam toàn là những người yêu nước cả. Thế nhưng không hiểu sao, họ chưa nói được những điều đáng ra phải nói từ lâu rồi."
"Rất nhiều vấn đề phải được công khai."
Đây là bài phỏng vấn cho chương trình talk-show Nhất hổ Nhất tịch đàm do người dẫn chương trình Hu I-Hu (Hồ Nhất Hổ, tên tiếng Anh là Tiger Hu) chủ trì, theo hình thức liên tuyến với nhiều khách mời ở cả trong trường quay lẫn các địa điểm ở bên ngoài.
Chương trình được ghi hình trước, sau đó dựng lại và phát sóng.
'Khán phòng dịu lại'
Tiến sỹ Vũ Cao Phan giải thích với BBC rằng ông đã trả lời phỏng vấn qua điện thoại vào hôm 23/06, và chương trình được phát ngày thứ Bảy 25/06, đồng thời phát lại một số lần.
Ông nói chưa được xem lại chương trình phát sóng, nhưng hy vọng nội dung các câu trả lời được phản ánh trung thực: "Ḥọ đã cam kết không cắt hay biên tập trả lời của tôi".
Ông Phan cho hay ông trả lời bằng tiếng Việt, theo kịch bản ông đã chuẩn bị sẵn trên cơ sở các câu hỏi đài truyền hình gửi cho ông từ trước, và có người phiên dịch lại.
"Trong khi thực hiện chương trình, tôi cũng được nghe trình bày của các khách mời khác."
Tiến sỹ Vũ Cao Phan, 67 tuổi, người thông thạo tiếng Quan Thoại, cho hay ông chỉ "trả lời được ba trong số bốn câu định trước".
"Phần trả lời câu hỏi cuối cùng ("Tương lai phát triển của quan hệ Trung-Việt") là câu tôi tâm đắc nhất, vì nó phản ánh suy nghĩ và nguyện vọng lâu nay của tôi, lại không thực hiện được."
"Còn khi tôi nghe một khách mời là tướng hải quân của Trung Quốc chỉ trích 'Việt Nam vô ơn', tôi muốn phản hồi lại thì đường dây lại được truyền sang cho người khác."
Chính phủ các bạn lại tuyên bố Hoàng Sa dứt khoát là của Trung Quốc, không phải là vấn đề có thể đưa ra đàm phán. Vậy thì còn cái gì nữa để mà "song phương" ở đây? Chính tuyên bố ấy của Trung Quốc đã đóng sập cánh cửa "con đường song phương".
TS Vũ Cao Phan
Tuy nhiên, ông Phan, người tự nhận là "yêu Trung Quốc, khâm phục Trung Quốc và thậm chí có thể gọi là 'thân Trung Quốc'" nói ông có thể cảm nhận không khí trong khán phòng "dịu lại" sau các câu trả lời của ông.
BBC xin trích giới thiệu phỏng vấn của Tiến sỹ Vũ Cao Phan dành cho Đài Phượng Hoàng, dựa trên văn bản chuẩn bị của tiến sỹ.
Nội dung phỏng vấn
Đài Phượng Hoàng: Sự thể hiện cứng rắn gần đây của Việt Nam ở Nam Hải (Biển Đông) biểu thị một thái độ gì?
TS Vũ Cao Phan: Nếu chỉ nhìn vào riêng biệt các sự kiện xảy ra gần đây để đánh giá phản ứng và thái độ của Việt Nam thì sẽ không chính xác. Phải nhìn rộng ra một chút, nhìn xa ra một chút.
Vài năm gần đây ngày càng có nhiều các tàu đánh cá của phía Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu hết lưới cụ rồi đòi tiền chuộc. Như năm ngoái chẳng hạn, hàng chục tàu thuyền, hàng trăm ngư dân khu vực miền Trung bị bắt giữ. Đây vốn là vùng đánh cá truyền thống lâu đời và yên lành của ngư dân Việt Nam, bây giờ bỗng nhiên liên tục xảy ra những sự việc như vậy.
Có lần TV Việt Nam chiếu cảnh hàng trăm thân nhân của những người đánh cá đứng, ngồi lam lũ trên bờ biển khóc lóc ngóng lo chồng con trở về đã gây ra rất nhiều bức xúc trong dư luận xã hội (điều này chắc các bạn Trung Quốc không biết).
Nhà đương cục Việt Nam đã nhiều lần tiếp xúc với phía Trung Quốc về vấn đề đó nhưng hầu như không được đáp ứng. Lần này Trung Quốc hành động mạnh hơn thì phản ứng của Việt Nam cũng buộc phải mạnh hơn, không có gì quá bất thường.
Trong tinh thần ấy, tôi nghĩ, phát biểu của lãnh đạo Việt Nam cũng chỉ là những phản ứng tự vệ, đâu có phải là lời lẽ đe dọa chiến tranh như các bạn vừa suy luận.
Còn nếu gọi đây là một sự leo thang thì phải thấy là Việt Nam leo theo các bạn Trung Quốc. Đúng thế đấy, phía Trung Quốc luôn luôn leo lên trước.
Đài Phượng Hoàng: Theo ông, tranh chấp trên Nam Hải sẽ được giải quyết bằng vũ lực hay đàm phán?
TS Vũ Cao Phan: Mặc dù Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh suốt hơn nửa thế kỷ qua nhưng không nhiều người nghĩ đến khả năng có một cuộc chiến tranh Trung - Việt vào lúc này.
Đã có nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam
Về phía cá nhân, tôi tin cuộc tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hòa bình. Thứ nhất là vì Chính phủ hai nước luôn luôn cam kết sẽ giải quyết những tranh chấp này không phải bằng vũ lực mà thông qua con đường ngoại giao, đàm phán thương lượng.
Thứ hai, cả hai nước đều đang ra sức phát triển kinh tế sau nhiều năm bị tàn phá bởi Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc và chiến tranh ở Việt Nam; và công cuộc xây dựng phát triển kinh tế này đang đạt được những kết quả khả quan, chắc là không bên nào muốn để chiến tranh một lần nữa kéo lùi sự phát triển của đất nước mình.
Thứ ba, bối cảnh của một thế giới hiện đại - tôi muốn nói đến một dư luận quốc tế đã trưởng thành - sẽ mạnh mẽ góp sức ngăn ngừa một khả năng như vậy.
Thứ tư, và điều này cũng rất quan trọng, là nếu chính phủ hai nước có nóng đầu một chút thì lý trí và tình cảm của nhân dân cả hai bên sẽ giúp cho họ tỉnh táo hơn, tôi tin như vậy.
Đài Phượng Hoàng: Bản chất của sự tranh chấp Trung-Việt, theo ông, là vấn đề kinh tế hay chủ quyền? Việt Nam nhìn nhận nguyên tắc "Gác tranh chấp, cùng khai thác" như thế nào?
TS Vũ Cao Phan: Các sự kiện ở Biển Đông cho thấy có cả màu sắc tranh chấp về kinh tế lẫn tranh chấp chủ quyền. Quan sát khách quan thì thấy Trưng Quốc có vẻ nghiêng về lý do kinh tế, còn Việt Nam nghiêng về lý do chủ quyền nhiều hơn. Cách nhìn vấn đề như vậy sẽ giải thích được tại sao Việt Nam không mặn mà lắm với việc "gác tranh chấp, cùng khai thác".
Lý do thứ nhất là tài nguyên thì có hạn, một khi khai thác hết rồi điều gì sẽ xảy ra? Liên quan đến nó là lý do thứ hai: "gác tranh chấp, cùng khai thác" mà các bạn vừa nêu mới chỉ là một nửa lời căn dặn của ông Đặng Tiểu Bình mà nguyên văn là: "Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác", có đúng không?
Như thế có nghĩa là khi đã cạn kiệt tài nguyên khai thác rồi, Việt Nam chẳng còn gì và Trung Quốc thì vẫn còn cái cơ bản là "chủ quyền"! Mà những hòn đảo và vùng biển ấy đâu chỉ có giá trị về tài nguyên?
Tôi ủng hộ việc hai nước cùng hợp tác khai thác tài nguyên ở Biển Đông nhưng ít nhất trước đó cũng phải làm sáng tỏ đến một mức độ nhất định nào đó (nếu chưa hoàn toàn) vấn đề chủ quyền.
Nếu cho tôi được phát triển theo ý mình thì tôi nói rằng, bản chất của cuộc tranh chấp này là chính trị.
Quan hệ Việt - Trung không yên tĩnh đã từ mấy chục năm nay rồi và nó là một dòng gần như liên tục, trước khi xuất hiện vấn đề biển đảo những năm gần đây, có phải vậy không? Để giải quyết nó, các nhà lãnh đạo cần phải ngồi lại với nhau, ở cấp cao nhất ấy, một cách bình đẳng, bình tĩnh, thẳng thắn và chân thành.
Câu hỏi không được thực hiện
Đài Phượng Hoàng: Theo ông, tương lai phát triển của quan hệ Trung-Việt sẽ như thế nào? Làm cách nào để có thể duy trì quan hệ hữu hảo giữa hai nước?
TS Vũ Cao Phan: Tôi là một người có nhiều năm công tác ở Hội Hữu nghị Việt - Trung, có nhiều mối quan hệ gắn bó với Trung Quốc và nói một cách rất chân thành là tôi yêu Trung Quốc, khâm phục Trung Quốc và thậm chí có thể gọi là "thân Trung Quốc" cũng được.
Vì thế, điều mong muốn thường trực của tôi là làm sao xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp, thật sự tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Chắc các bạn cũng muốn vậy.
Trước hết, như tôi đã nói là phải ngồi lại với nhau. Có vị bảo với tôi là ngồi mãi rồi còn gì. Không, ngồi như vậy chưa được, ngồi như vậy không được. Ngồi thế không phải là ngồi thẳng.
Về phần mình với mong muốn như vậy, tôi xin được gửi gắm đôi điều giống như là những lời tâm sự đến các bạn:
Thứ nhất là, vấn đề đàm phán song phương giữa hai nước. Tôi nghĩ đàm phán song phương cũng tốt, cũng cần thiết. Những nơi có tranh chấp đa phương như quần đảo Trường Sa (Nam Sa) thì cần phải đàm phán nhiều bên còn như quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) là vấn đề của riêng hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại khác.
Thực tế là quyền lợi quốc gia cao hơn ý thức hệ. Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận vậy để khỏi dối lòng nhau.
TS Vũ Cao Phan
Nhưng Chính phủ các bạn lại tuyên bố Hoàng Sa dứt khoát là của Trung Quốc, không phải là vấn đề có thể đưa ra đàm phán. Vậy thì còn cái gì nữa để mà "song phương" ở đây? Chính tuyên bố ấy của Trung Quốc đã đóng sập cánh cửa "con đường song phương".
Thứ hai là, chúng ta thường nói đến sự tương đồng văn hóa giữa hai nước như là một lợi thế cho việc chung sống hữu nghị bên nhau giữa hai dân tộc. Điều đó đúng một phần, nhưng mặt khác, văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa ứng xử có sự khác biệt với lớn Trung Quốc.
Nếu văn hóa ứng xử của người Trung Quốc là mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán (và do đó thường áp đặt?), nặng về lý trí, thì văn hóa ứng xử của người Việt Nam là nhẹ nhàng, khoan dung, nặng về tình, ơn thì nhớ lâu, oán thì không giữ. Hình như các bạn Trung Quốc chưa hiểu được điều này ở người Việt Nam. Cần phải hiểu được như vậy thì quan hệ giữa hai bên mới dễ dàng.
Nói như thế vì tôi thấy rằng, cách ứng xử nặng nề của phía Trung Quốc đối với Việt Nam đã và đang đẩy những người Việt Nam vốn rất yêu quý Trung Quốc ra xa các bạn, chứ không phải là Việt Nam cố đi tìm những liên minh ma quỷ để chống Trung Quốc.
Thứ ba là, quan hệ giữa hai nước chúng ta thậm chí phải trở nên đặc biệt vì chúng ta có sự tương đồng văn hóa, lịch sử, là láng giếng không thể cắt rời, từng hoạn nạn có nhau (bản thân tôi là một người lính trong chiến tranh, tôi không thể nào quên sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Trung Quốc về cả vũ khí, lương thực mà mình trực tiếp được sử dụng).
Hai nước chúng ta lại đang cùng cải cách mở cửa, phát triển kinh tế. Chừng ấy lý do là quá đủ để quan hệ này trở nên hiếm có, trở nên đặc biệt.
Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi thì không cần nhấn mạnh điểm tương đồng này. Giữa các nước có cùng ý thức hệ kiểu này vẫn xảy ra xung đột, chiến tranh vì quyền lợi quốc gia như chúng ta đã biết đấy thôi.
Thực tế là quyền lợi quốc gia cao hơn ý thức hệ. Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận vậy để khỏi dối lòng nhau.
Bấm Quý vị bấm vào đây để chia sẻ ý kiến về chủ đề này.
Trong bài phỏng vấn, chuyên gia về quan hệ Việt-Trung đã đề cập tới nhiều vấn đề trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, như yêu sách đàm phán song phương của Trung Quốc, hay thái độ của truyền thông Trung Quốc khi đưa tin bài về Việt Nam.
Bài phỏng vấn này đã được đăng trên một số tờ báo mạng của Việt Nam, được đón nhận một cách tích cực.
Tiến sỹ Phan nói ông cũng "không ngờ trước được hiệu ứng của bài phỏng vấn" khi nó được đăng tải ở Việt Nam, cho thấy các câu trả lời của ông đã "thỏa mãn được nhu cầu cần được biết của người đọc".
"Nhà nước Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam toàn là những người yêu nước cả. Thế nhưng không hiểu sao, họ chưa nói được những điều đáng ra phải nói từ lâu rồi."
"Rất nhiều vấn đề phải được công khai."
Đây là bài phỏng vấn cho chương trình talk-show Nhất hổ Nhất tịch đàm do người dẫn chương trình Hu I-Hu (Hồ Nhất Hổ, tên tiếng Anh là Tiger Hu) chủ trì, theo hình thức liên tuyến với nhiều khách mời ở cả trong trường quay lẫn các địa điểm ở bên ngoài.
Chương trình được ghi hình trước, sau đó dựng lại và phát sóng.
'Khán phòng dịu lại'
Tiến sỹ Vũ Cao Phan giải thích với BBC rằng ông đã trả lời phỏng vấn qua điện thoại vào hôm 23/06, và chương trình được phát ngày thứ Bảy 25/06, đồng thời phát lại một số lần.
Ông nói chưa được xem lại chương trình phát sóng, nhưng hy vọng nội dung các câu trả lời được phản ánh trung thực: "Ḥọ đã cam kết không cắt hay biên tập trả lời của tôi".
Ông Phan cho hay ông trả lời bằng tiếng Việt, theo kịch bản ông đã chuẩn bị sẵn trên cơ sở các câu hỏi đài truyền hình gửi cho ông từ trước, và có người phiên dịch lại.
"Trong khi thực hiện chương trình, tôi cũng được nghe trình bày của các khách mời khác."
Tiến sỹ Vũ Cao Phan, 67 tuổi, người thông thạo tiếng Quan Thoại, cho hay ông chỉ "trả lời được ba trong số bốn câu định trước".
"Phần trả lời câu hỏi cuối cùng ("Tương lai phát triển của quan hệ Trung-Việt") là câu tôi tâm đắc nhất, vì nó phản ánh suy nghĩ và nguyện vọng lâu nay của tôi, lại không thực hiện được."
"Còn khi tôi nghe một khách mời là tướng hải quân của Trung Quốc chỉ trích 'Việt Nam vô ơn', tôi muốn phản hồi lại thì đường dây lại được truyền sang cho người khác."
Chính phủ các bạn lại tuyên bố Hoàng Sa dứt khoát là của Trung Quốc, không phải là vấn đề có thể đưa ra đàm phán. Vậy thì còn cái gì nữa để mà "song phương" ở đây? Chính tuyên bố ấy của Trung Quốc đã đóng sập cánh cửa "con đường song phương".
TS Vũ Cao Phan
Tuy nhiên, ông Phan, người tự nhận là "yêu Trung Quốc, khâm phục Trung Quốc và thậm chí có thể gọi là 'thân Trung Quốc'" nói ông có thể cảm nhận không khí trong khán phòng "dịu lại" sau các câu trả lời của ông.
BBC xin trích giới thiệu phỏng vấn của Tiến sỹ Vũ Cao Phan dành cho Đài Phượng Hoàng, dựa trên văn bản chuẩn bị của tiến sỹ.
Nội dung phỏng vấn
Đài Phượng Hoàng: Sự thể hiện cứng rắn gần đây của Việt Nam ở Nam Hải (Biển Đông) biểu thị một thái độ gì?
TS Vũ Cao Phan: Nếu chỉ nhìn vào riêng biệt các sự kiện xảy ra gần đây để đánh giá phản ứng và thái độ của Việt Nam thì sẽ không chính xác. Phải nhìn rộng ra một chút, nhìn xa ra một chút.
Vài năm gần đây ngày càng có nhiều các tàu đánh cá của phía Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu hết lưới cụ rồi đòi tiền chuộc. Như năm ngoái chẳng hạn, hàng chục tàu thuyền, hàng trăm ngư dân khu vực miền Trung bị bắt giữ. Đây vốn là vùng đánh cá truyền thống lâu đời và yên lành của ngư dân Việt Nam, bây giờ bỗng nhiên liên tục xảy ra những sự việc như vậy.
Có lần TV Việt Nam chiếu cảnh hàng trăm thân nhân của những người đánh cá đứng, ngồi lam lũ trên bờ biển khóc lóc ngóng lo chồng con trở về đã gây ra rất nhiều bức xúc trong dư luận xã hội (điều này chắc các bạn Trung Quốc không biết).
Nhà đương cục Việt Nam đã nhiều lần tiếp xúc với phía Trung Quốc về vấn đề đó nhưng hầu như không được đáp ứng. Lần này Trung Quốc hành động mạnh hơn thì phản ứng của Việt Nam cũng buộc phải mạnh hơn, không có gì quá bất thường.
Trong tinh thần ấy, tôi nghĩ, phát biểu của lãnh đạo Việt Nam cũng chỉ là những phản ứng tự vệ, đâu có phải là lời lẽ đe dọa chiến tranh như các bạn vừa suy luận.
Còn nếu gọi đây là một sự leo thang thì phải thấy là Việt Nam leo theo các bạn Trung Quốc. Đúng thế đấy, phía Trung Quốc luôn luôn leo lên trước.
Đài Phượng Hoàng: Theo ông, tranh chấp trên Nam Hải sẽ được giải quyết bằng vũ lực hay đàm phán?
TS Vũ Cao Phan: Mặc dù Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh suốt hơn nửa thế kỷ qua nhưng không nhiều người nghĩ đến khả năng có một cuộc chiến tranh Trung - Việt vào lúc này.
Đã có nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam
Về phía cá nhân, tôi tin cuộc tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hòa bình. Thứ nhất là vì Chính phủ hai nước luôn luôn cam kết sẽ giải quyết những tranh chấp này không phải bằng vũ lực mà thông qua con đường ngoại giao, đàm phán thương lượng.
Thứ hai, cả hai nước đều đang ra sức phát triển kinh tế sau nhiều năm bị tàn phá bởi Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc và chiến tranh ở Việt Nam; và công cuộc xây dựng phát triển kinh tế này đang đạt được những kết quả khả quan, chắc là không bên nào muốn để chiến tranh một lần nữa kéo lùi sự phát triển của đất nước mình.
Thứ ba, bối cảnh của một thế giới hiện đại - tôi muốn nói đến một dư luận quốc tế đã trưởng thành - sẽ mạnh mẽ góp sức ngăn ngừa một khả năng như vậy.
Thứ tư, và điều này cũng rất quan trọng, là nếu chính phủ hai nước có nóng đầu một chút thì lý trí và tình cảm của nhân dân cả hai bên sẽ giúp cho họ tỉnh táo hơn, tôi tin như vậy.
Đài Phượng Hoàng: Bản chất của sự tranh chấp Trung-Việt, theo ông, là vấn đề kinh tế hay chủ quyền? Việt Nam nhìn nhận nguyên tắc "Gác tranh chấp, cùng khai thác" như thế nào?
TS Vũ Cao Phan: Các sự kiện ở Biển Đông cho thấy có cả màu sắc tranh chấp về kinh tế lẫn tranh chấp chủ quyền. Quan sát khách quan thì thấy Trưng Quốc có vẻ nghiêng về lý do kinh tế, còn Việt Nam nghiêng về lý do chủ quyền nhiều hơn. Cách nhìn vấn đề như vậy sẽ giải thích được tại sao Việt Nam không mặn mà lắm với việc "gác tranh chấp, cùng khai thác".
Lý do thứ nhất là tài nguyên thì có hạn, một khi khai thác hết rồi điều gì sẽ xảy ra? Liên quan đến nó là lý do thứ hai: "gác tranh chấp, cùng khai thác" mà các bạn vừa nêu mới chỉ là một nửa lời căn dặn của ông Đặng Tiểu Bình mà nguyên văn là: "Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác", có đúng không?
Như thế có nghĩa là khi đã cạn kiệt tài nguyên khai thác rồi, Việt Nam chẳng còn gì và Trung Quốc thì vẫn còn cái cơ bản là "chủ quyền"! Mà những hòn đảo và vùng biển ấy đâu chỉ có giá trị về tài nguyên?
Tôi ủng hộ việc hai nước cùng hợp tác khai thác tài nguyên ở Biển Đông nhưng ít nhất trước đó cũng phải làm sáng tỏ đến một mức độ nhất định nào đó (nếu chưa hoàn toàn) vấn đề chủ quyền.
Nếu cho tôi được phát triển theo ý mình thì tôi nói rằng, bản chất của cuộc tranh chấp này là chính trị.
Quan hệ Việt - Trung không yên tĩnh đã từ mấy chục năm nay rồi và nó là một dòng gần như liên tục, trước khi xuất hiện vấn đề biển đảo những năm gần đây, có phải vậy không? Để giải quyết nó, các nhà lãnh đạo cần phải ngồi lại với nhau, ở cấp cao nhất ấy, một cách bình đẳng, bình tĩnh, thẳng thắn và chân thành.
Câu hỏi không được thực hiện
Đài Phượng Hoàng: Theo ông, tương lai phát triển của quan hệ Trung-Việt sẽ như thế nào? Làm cách nào để có thể duy trì quan hệ hữu hảo giữa hai nước?
TS Vũ Cao Phan: Tôi là một người có nhiều năm công tác ở Hội Hữu nghị Việt - Trung, có nhiều mối quan hệ gắn bó với Trung Quốc và nói một cách rất chân thành là tôi yêu Trung Quốc, khâm phục Trung Quốc và thậm chí có thể gọi là "thân Trung Quốc" cũng được.
Vì thế, điều mong muốn thường trực của tôi là làm sao xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp, thật sự tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Chắc các bạn cũng muốn vậy.
Trước hết, như tôi đã nói là phải ngồi lại với nhau. Có vị bảo với tôi là ngồi mãi rồi còn gì. Không, ngồi như vậy chưa được, ngồi như vậy không được. Ngồi thế không phải là ngồi thẳng.
Về phần mình với mong muốn như vậy, tôi xin được gửi gắm đôi điều giống như là những lời tâm sự đến các bạn:
Thứ nhất là, vấn đề đàm phán song phương giữa hai nước. Tôi nghĩ đàm phán song phương cũng tốt, cũng cần thiết. Những nơi có tranh chấp đa phương như quần đảo Trường Sa (Nam Sa) thì cần phải đàm phán nhiều bên còn như quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) là vấn đề của riêng hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại khác.
Thực tế là quyền lợi quốc gia cao hơn ý thức hệ. Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận vậy để khỏi dối lòng nhau.
TS Vũ Cao Phan
Nhưng Chính phủ các bạn lại tuyên bố Hoàng Sa dứt khoát là của Trung Quốc, không phải là vấn đề có thể đưa ra đàm phán. Vậy thì còn cái gì nữa để mà "song phương" ở đây? Chính tuyên bố ấy của Trung Quốc đã đóng sập cánh cửa "con đường song phương".
Thứ hai là, chúng ta thường nói đến sự tương đồng văn hóa giữa hai nước như là một lợi thế cho việc chung sống hữu nghị bên nhau giữa hai dân tộc. Điều đó đúng một phần, nhưng mặt khác, văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa ứng xử có sự khác biệt với lớn Trung Quốc.
Nếu văn hóa ứng xử của người Trung Quốc là mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán (và do đó thường áp đặt?), nặng về lý trí, thì văn hóa ứng xử của người Việt Nam là nhẹ nhàng, khoan dung, nặng về tình, ơn thì nhớ lâu, oán thì không giữ. Hình như các bạn Trung Quốc chưa hiểu được điều này ở người Việt Nam. Cần phải hiểu được như vậy thì quan hệ giữa hai bên mới dễ dàng.
Nói như thế vì tôi thấy rằng, cách ứng xử nặng nề của phía Trung Quốc đối với Việt Nam đã và đang đẩy những người Việt Nam vốn rất yêu quý Trung Quốc ra xa các bạn, chứ không phải là Việt Nam cố đi tìm những liên minh ma quỷ để chống Trung Quốc.
Thứ ba là, quan hệ giữa hai nước chúng ta thậm chí phải trở nên đặc biệt vì chúng ta có sự tương đồng văn hóa, lịch sử, là láng giếng không thể cắt rời, từng hoạn nạn có nhau (bản thân tôi là một người lính trong chiến tranh, tôi không thể nào quên sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Trung Quốc về cả vũ khí, lương thực mà mình trực tiếp được sử dụng).
Hai nước chúng ta lại đang cùng cải cách mở cửa, phát triển kinh tế. Chừng ấy lý do là quá đủ để quan hệ này trở nên hiếm có, trở nên đặc biệt.
Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi thì không cần nhấn mạnh điểm tương đồng này. Giữa các nước có cùng ý thức hệ kiểu này vẫn xảy ra xung đột, chiến tranh vì quyền lợi quốc gia như chúng ta đã biết đấy thôi.
Thực tế là quyền lợi quốc gia cao hơn ý thức hệ. Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận vậy để khỏi dối lòng nhau.
Bấm Quý vị bấm vào đây để chia sẻ ý kiến về chủ đề này.
Có nên tiếp tục biểu tình chống TQ?
(Lưu ý: Bài này viết ngày 10/6/2011)
Từ những năm 2005-2006, không chỉ người Việt mà cả thế giới tự do đều biết rõ nhà cầm quyền Trung Quốc sau khi tung bản đồ hình lưỡi bò khẳng định toàn bộ vùng vịnh miền Trung Việt Nam thuộc chủ quyền Trung Quốc thì họ có hành động kèm theo là thường xuyên tấn công, bắt người, đánh đập dã man, bắn chết, cướp tài sản của ngư dân VN. Đã có rất nhiều ngư dân bị cướp trắng con tàu là tài sản duy nhất, phải tan nhà nát cửa, phải trở thành tàn phế, thê thảm hơn là có những ngư dân vô tội mãi mãi nằm lại biển cả vì bàn tay tàn bạo của nhà cầm quyền TQ. Tuy nhiên, nhà cầm quyền VN im lặng như không nghe, không biết, không thấy gì. Báo chí VN im lặng trước nỗi đau thương, mất mát của người dân, họa hoằn lắm mới đăng tin ngư dân bị tấn công mà không dám chỉ đích danh thủ phạm, phải dùng chữ “tàu lạ” để gọi. Trong khi đó, truyền thông nước ngoài (BBC Luân Đôn, RFI, RFA… ) luôn thông tin chi tiết các sự kiện này.
Đó là lý do để nổ ra 3 cuộc biểu tình của người dân Sài Gòn và Hà Nội vào tháng 12 năm 2007, tháng 1 năm 2008 để phản đối TQ chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của VN. Tôi, một công dân VN bình thường, đã 3 lần trực tiếp tham gia biểu tình, vì vậy, không ít lần bị công an VN chận đường bắt cóc, cướp đoạt tài sản, “vu cáo tàng trữ ma túy”.
Hành động ngang ngược của nhà cầm quyền TQ theo thời gian vẫn luôn tiếp diễn và ngày càng lấn tới, đỉnh điểm là họ ngang nhiên cho tàu cá sang vùng biển miền Trung khai thác (dưới sự yểm trợ của hải quân TQ), cướp tàu cá của ngư dân VN và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2 (thuộc Tổng công ty dầu khí VN) đang hoạt động trong vùng biển VN vào ngày 26/5/2011. Với những hàng chữ Latinh (China) và Hán ngữ (中國) to đùng ghi rõ xuất xứ đây là tàu của nhà nước TQ (không phải tư nhân), những người có trách nhiệm ở VN không thể viện bất cứ lý do gì để có thể “lạ” mãi được, đành phải để cho báo chí VN nhìn nhận là “quen”. Tuy nhiên, các vị lãnh đạo quốc gia vẫn “im hơi lặng tiếng” dài dài.
“Cây kim trong bọc lâu ngày phải lòi ra”, “giấy không gói được lửa”, “thúng” cũng không “úp” mãi được “voi”, người Việt trong và ngoài nước đùng đùng phẫn nộ trước sự im lặng của nhà cầm quyền VN, thế là họ lại kêu gọi nhau biểu tình phản đối TQ ở hai thành phố lớn nhất VN là Sài Gòn và Hà Nội. Hậu quả (tôi cố ý dùng chữ hậu quả, không phải kết quả) với những người đã tham gia biểu tình ngày 5/6/2011 và những người “có nguy cơ biểu tình” bị “nhà nước ta” tung ra một lực lượng hùng hậu đủ thứ sắc phục, quân phục, xe cộ, dùi cui, roi điện, súng ống các loại, còng số 8… (chỉ còn thiếu mã tấu nữa là “toàn tập”) “thẳng tay trừng trị”. Nhiều em sinh viên, (điển hình là em Paul Nguyễn Minh Nhật, ảnh đính kèm) bị chặn bắt trên đường đầy chất bạo lực như bắt những tên cướp của giết người nguy hiểm. Nhiều người bị bắt giữ bất hợp pháp, bị hạch hỏi chuyện riêng tư, bị đe dọa buộc cung cấp địa chỉ mail cá nhân và password…
Ngày 9/6/2011 Thủ tướng VN và Chủ tịch nước VN (đến lúc này) mới chường mặt lên báo tuyên bố hùng hồn “cương quyết bảo vệ chủ quyền”. Sự kiện ngày 5/6/2011 chưa nguội, lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Minh Triết chưa kịp ráo bọt mép, lúc 18 giờ ngày 9/6 phía TQ đã “tát” cho một “quả” nặng nề vào mồm hai ông bằng cách tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2 (thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam). Người Việt trong nước lại sôi lên sùng sục, ý chừng lại muốn tổ chức biểu tình lần nữa.
Trước tình hình “ta” ủng hộ “địch” trấn áp lại “ta”, người dân có nên biểu tình nữa hay không?
Trước hết, hãy xét đến mặt nên:
- Vì danh dự, vì lòng tự tôn tự hào dân tộc, “giấy rách phải giữ lấy lề”, “lành cho sạch rách cho thơm”, vì tình yêu tổ quốc 4000 năm “Thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc”. Có thể một số người bất cần danh dự, bất cần lòng tự tôn và sĩ diện, giả câm, giả điếc, giả mù trước nguy cơ mất nước, nhưng toàn thể dân Việt thì cần. “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!” (Vua Lê Thánh Tôn- Đại việt sử ký toàn thư);
- Vì TQ tấn công ngư dân, tấn công tàu VN là họ tấn công tất cả dân tộc VN;
- Vì để chứng minh cho những người Việt nào còn mơ hồ, còn u mê, còn ham một chút bổng lộc (lấy từ tiền thuế của dân) và những lời tuyên truyền dối trá mị dân được sáng mắt ra trước một thực tế phũ phàng (không phải do bọn “Việt kiều thù địch” “nói xấu”): Nhà cầm quyền VN luôn “khiêm nhượng”, “nhún nhường”, “không được sử dụng bạo lực” (lời Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh) đối với hành vi dùng bạo lực xâm chiếm chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ VN của TQ, nhưng sẳn sàng tung lực lượng hùng hậu ra đối phó với dân thường (không vũ khí) và sẳn sàng sử dụng bạo lực với người dân, dù người dân chỉ thể hiện lòng yêu nước một cách ôn hòa.
Và không nên biểu tình:
- Bạn Trung Kiên đặt câu hỏi: “Hôm trước cả ông Đại Tướng Phùng Quang Thanh lẫn Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã tuyên bố cho cố…Nhưng rồi đã làm gì? Lần này (vụ tàu Viking 2 bị cắt cáp. NV) là một thách đố mạnh mẽ để xem các ông (Thanh + Vịnh) phản ứng thế nào đây? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên tiếng cương quyết bảo vệ chủ quyền Việt Nam… Bảo vệ cách nào đây thưa ông Thủ Tướng khi mà nhà nước cấm cản nhân dân biểu tình, ngăn chận và bắt giữ những người bất đồng chính kiến, khủng bố nhân dân?”. Vậy thì người dân hãy chờ xem nhà cầm quyền VN sẽ “bảo vệ chủ quyền” bằng cách nào.
- Tổng công ty dầu khí VN lẫn Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam từ khi thành lập đến nay chưa thấy đem lại lợi ích gì cho người dân VN. Người nghèo VN mỗi ngày vẫn phải rên xiết vì phải dùng xăng dầu, gas… giá cao, vì giá cứ tăng liên tục trong khi giá dầu thế giới giảm. Vì người tiêu dùng phải trả đến 40% trị giá 1 lít xăng (dầu) cho các loại phí và quỹ trời ơi đất hỡi nào đó mà chính họ chưa bao giờ được biết người ta thu tiền của họ đem đi đâu, dùng vào việc gì, có chính đáng hay không. Vì vậy, tàu của các tập đoàn lẫn công ty đó bị gì gì là chuyện của bọn họ tự giải quyết lấy, không liên quan gì đến các loại thường dân.
- Vì lòng yêu nước của người dân VN bị chính nhà cầm quyền VN xúc phạm nặng nề. Biểu tình để phô trương sức mạnh, tỏ rõ quyết tâm người dân cùng với nhà nước đồng lòng bảo vệ chủ quyền, đáng lẽ được khen ngợi, khuyến khích thì nhà nước lại đàn áp và gọi là “tuần hành”, “tụ tập” (nghe cứ như ma cô, đĩ điếm tụ tập hàng đêm ở công viên) và nhà nước vẫn khư khư ôm lấy “4 tốt” và “16 chữ vàng”.
- Hôm nay (10/6/2011) bài hát “Tổ quốc nhìn từ biển” được ào ạt đưa lên sóng phát thanh để khơi dậy bầu náu nóng của nhân dân. Người dân VN là chủ đất nước, chớ không phải là “con rối” cho kẻ khác giật dây và đẩy lên “tuyến đầu” chống ngoại xâm, hy sinh mạng sống của mình để cho những kẻ ươn hèn, mua quan bán tước, bán nước buôn dân núp sau lưng hưởng lợi.
Nếu quý vị “yêu nước chánh hiệu” (không phải giả hiệu) nào có lý do khác, xin mời bổ sung thêm. Và sau khi đọc qua các lý do “nên” và “không nên” ở trên, người dân Việt đủ khôn ngoan và sáng suốt quyết định mình phải làm, nên làm như thế nào cho phù hợp.
Nguồn: Blog Tạ Phong Tần
Từ những năm 2005-2006, không chỉ người Việt mà cả thế giới tự do đều biết rõ nhà cầm quyền Trung Quốc sau khi tung bản đồ hình lưỡi bò khẳng định toàn bộ vùng vịnh miền Trung Việt Nam thuộc chủ quyền Trung Quốc thì họ có hành động kèm theo là thường xuyên tấn công, bắt người, đánh đập dã man, bắn chết, cướp tài sản của ngư dân VN. Đã có rất nhiều ngư dân bị cướp trắng con tàu là tài sản duy nhất, phải tan nhà nát cửa, phải trở thành tàn phế, thê thảm hơn là có những ngư dân vô tội mãi mãi nằm lại biển cả vì bàn tay tàn bạo của nhà cầm quyền TQ. Tuy nhiên, nhà cầm quyền VN im lặng như không nghe, không biết, không thấy gì. Báo chí VN im lặng trước nỗi đau thương, mất mát của người dân, họa hoằn lắm mới đăng tin ngư dân bị tấn công mà không dám chỉ đích danh thủ phạm, phải dùng chữ “tàu lạ” để gọi. Trong khi đó, truyền thông nước ngoài (BBC Luân Đôn, RFI, RFA… ) luôn thông tin chi tiết các sự kiện này.
Đó là lý do để nổ ra 3 cuộc biểu tình của người dân Sài Gòn và Hà Nội vào tháng 12 năm 2007, tháng 1 năm 2008 để phản đối TQ chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của VN. Tôi, một công dân VN bình thường, đã 3 lần trực tiếp tham gia biểu tình, vì vậy, không ít lần bị công an VN chận đường bắt cóc, cướp đoạt tài sản, “vu cáo tàng trữ ma túy”.
Hành động ngang ngược của nhà cầm quyền TQ theo thời gian vẫn luôn tiếp diễn và ngày càng lấn tới, đỉnh điểm là họ ngang nhiên cho tàu cá sang vùng biển miền Trung khai thác (dưới sự yểm trợ của hải quân TQ), cướp tàu cá của ngư dân VN và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2 (thuộc Tổng công ty dầu khí VN) đang hoạt động trong vùng biển VN vào ngày 26/5/2011. Với những hàng chữ Latinh (China) và Hán ngữ (中國) to đùng ghi rõ xuất xứ đây là tàu của nhà nước TQ (không phải tư nhân), những người có trách nhiệm ở VN không thể viện bất cứ lý do gì để có thể “lạ” mãi được, đành phải để cho báo chí VN nhìn nhận là “quen”. Tuy nhiên, các vị lãnh đạo quốc gia vẫn “im hơi lặng tiếng” dài dài.
“Cây kim trong bọc lâu ngày phải lòi ra”, “giấy không gói được lửa”, “thúng” cũng không “úp” mãi được “voi”, người Việt trong và ngoài nước đùng đùng phẫn nộ trước sự im lặng của nhà cầm quyền VN, thế là họ lại kêu gọi nhau biểu tình phản đối TQ ở hai thành phố lớn nhất VN là Sài Gòn và Hà Nội. Hậu quả (tôi cố ý dùng chữ hậu quả, không phải kết quả) với những người đã tham gia biểu tình ngày 5/6/2011 và những người “có nguy cơ biểu tình” bị “nhà nước ta” tung ra một lực lượng hùng hậu đủ thứ sắc phục, quân phục, xe cộ, dùi cui, roi điện, súng ống các loại, còng số 8… (chỉ còn thiếu mã tấu nữa là “toàn tập”) “thẳng tay trừng trị”. Nhiều em sinh viên, (điển hình là em Paul Nguyễn Minh Nhật, ảnh đính kèm) bị chặn bắt trên đường đầy chất bạo lực như bắt những tên cướp của giết người nguy hiểm. Nhiều người bị bắt giữ bất hợp pháp, bị hạch hỏi chuyện riêng tư, bị đe dọa buộc cung cấp địa chỉ mail cá nhân và password…
Ngày 9/6/2011 Thủ tướng VN và Chủ tịch nước VN (đến lúc này) mới chường mặt lên báo tuyên bố hùng hồn “cương quyết bảo vệ chủ quyền”. Sự kiện ngày 5/6/2011 chưa nguội, lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Minh Triết chưa kịp ráo bọt mép, lúc 18 giờ ngày 9/6 phía TQ đã “tát” cho một “quả” nặng nề vào mồm hai ông bằng cách tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2 (thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam). Người Việt trong nước lại sôi lên sùng sục, ý chừng lại muốn tổ chức biểu tình lần nữa.
Trước tình hình “ta” ủng hộ “địch” trấn áp lại “ta”, người dân có nên biểu tình nữa hay không?
Trước hết, hãy xét đến mặt nên:
- Vì danh dự, vì lòng tự tôn tự hào dân tộc, “giấy rách phải giữ lấy lề”, “lành cho sạch rách cho thơm”, vì tình yêu tổ quốc 4000 năm “Thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc”. Có thể một số người bất cần danh dự, bất cần lòng tự tôn và sĩ diện, giả câm, giả điếc, giả mù trước nguy cơ mất nước, nhưng toàn thể dân Việt thì cần. “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!” (Vua Lê Thánh Tôn- Đại việt sử ký toàn thư);
- Vì TQ tấn công ngư dân, tấn công tàu VN là họ tấn công tất cả dân tộc VN;
- Vì để chứng minh cho những người Việt nào còn mơ hồ, còn u mê, còn ham một chút bổng lộc (lấy từ tiền thuế của dân) và những lời tuyên truyền dối trá mị dân được sáng mắt ra trước một thực tế phũ phàng (không phải do bọn “Việt kiều thù địch” “nói xấu”): Nhà cầm quyền VN luôn “khiêm nhượng”, “nhún nhường”, “không được sử dụng bạo lực” (lời Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh) đối với hành vi dùng bạo lực xâm chiếm chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ VN của TQ, nhưng sẳn sàng tung lực lượng hùng hậu ra đối phó với dân thường (không vũ khí) và sẳn sàng sử dụng bạo lực với người dân, dù người dân chỉ thể hiện lòng yêu nước một cách ôn hòa.
Và không nên biểu tình:
- Bạn Trung Kiên đặt câu hỏi: “Hôm trước cả ông Đại Tướng Phùng Quang Thanh lẫn Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã tuyên bố cho cố…Nhưng rồi đã làm gì? Lần này (vụ tàu Viking 2 bị cắt cáp. NV) là một thách đố mạnh mẽ để xem các ông (Thanh + Vịnh) phản ứng thế nào đây? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên tiếng cương quyết bảo vệ chủ quyền Việt Nam… Bảo vệ cách nào đây thưa ông Thủ Tướng khi mà nhà nước cấm cản nhân dân biểu tình, ngăn chận và bắt giữ những người bất đồng chính kiến, khủng bố nhân dân?”. Vậy thì người dân hãy chờ xem nhà cầm quyền VN sẽ “bảo vệ chủ quyền” bằng cách nào.
- Tổng công ty dầu khí VN lẫn Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam từ khi thành lập đến nay chưa thấy đem lại lợi ích gì cho người dân VN. Người nghèo VN mỗi ngày vẫn phải rên xiết vì phải dùng xăng dầu, gas… giá cao, vì giá cứ tăng liên tục trong khi giá dầu thế giới giảm. Vì người tiêu dùng phải trả đến 40% trị giá 1 lít xăng (dầu) cho các loại phí và quỹ trời ơi đất hỡi nào đó mà chính họ chưa bao giờ được biết người ta thu tiền của họ đem đi đâu, dùng vào việc gì, có chính đáng hay không. Vì vậy, tàu của các tập đoàn lẫn công ty đó bị gì gì là chuyện của bọn họ tự giải quyết lấy, không liên quan gì đến các loại thường dân.
- Vì lòng yêu nước của người dân VN bị chính nhà cầm quyền VN xúc phạm nặng nề. Biểu tình để phô trương sức mạnh, tỏ rõ quyết tâm người dân cùng với nhà nước đồng lòng bảo vệ chủ quyền, đáng lẽ được khen ngợi, khuyến khích thì nhà nước lại đàn áp và gọi là “tuần hành”, “tụ tập” (nghe cứ như ma cô, đĩ điếm tụ tập hàng đêm ở công viên) và nhà nước vẫn khư khư ôm lấy “4 tốt” và “16 chữ vàng”.
- Hôm nay (10/6/2011) bài hát “Tổ quốc nhìn từ biển” được ào ạt đưa lên sóng phát thanh để khơi dậy bầu náu nóng của nhân dân. Người dân VN là chủ đất nước, chớ không phải là “con rối” cho kẻ khác giật dây và đẩy lên “tuyến đầu” chống ngoại xâm, hy sinh mạng sống của mình để cho những kẻ ươn hèn, mua quan bán tước, bán nước buôn dân núp sau lưng hưởng lợi.
Nếu quý vị “yêu nước chánh hiệu” (không phải giả hiệu) nào có lý do khác, xin mời bổ sung thêm. Và sau khi đọc qua các lý do “nên” và “không nên” ở trên, người dân Việt đủ khôn ngoan và sáng suốt quyết định mình phải làm, nên làm như thế nào cho phù hợp.
Nguồn: Blog Tạ Phong Tần
Những thói vô trách nhiệm
Thời nào cũng có, xã hội nào cũng có, mỗi con người trong chúng ta ít nhiều đều có những lần không nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho người khác. Hình như đó là lẽ thường của luật tạo hóa; là bản chất tự nhiên của con người thường muốn được yên thân để tồn tại. Không thể có thống kê vì nó thuộc về tinh thần. Nhưng người ta có thể cảm nhận những thói vô trách nhiệm từ chuyện nhỏ cho đến chuyện đại sự quốc gia ở Việt Nam hiện tại thật là kinh khủng.
Vô trách nhiệm thì không đẹp mặt chút nào, nhưng cộng thêm cái vô lương tâm vào nữa thì lại càng đáng sợ hơn.
Câu chuyện vừa qua của một nạn nhân bị cướp, tiền rơi vãi ngoài đường, những người có mặt lúc đó xúm vào tranh giành, xem như là của trời cho. Đó là cái thói vô trách nhiệm đối với xã hội và vô lương tâm với nạn nhân. Thật là đáng sợ!
Hình ảnh một người đàn bà bị gia đình trói nằm giữa đường, đứa con nhỏ đến mở trói cho mẹ trong khi những người hàng xóm bàng quan coi như không phải là chuyện của mình! Nhưng nếu ai trong số đó lên tiếng chắc thể nào cũng không yên với kẻ chủ mưu: Chuyện của người khác sao lại đi xía vào? Hoặc, không được xen vào chuyện nội bộ người khác. Những cách ăn nói hồ đồ tương tự cũng đã thường xảy ra từ các cấp lãnh đạo quốc gia đối với thế giới. Họ không nghĩ những việc làm đó là vi phạm nhân quyền, dã man, mất tính người. Họ luôn nhân danh gia đình, tổ chức, quốc gia; thuộc về chuyện nội bộ của họ để bào chữa cho việc làm vô đạo.
Giữa lòng thành phố, rác thải chất hàng đống từ năm này qua năm nọ; đường xá ổ gà, lỗ cống không nắp đậy “nuốt” xe mặc kệ, không ai thèm đếm xỉa tới là do đâu ra vậy? Có phải chăng là từ cái thói vô trách nhiệm của tất cả mọi người, trong đó chính quyền địa phương phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề nhất.
Nói thêm về chuyện quan trọng hơn, ảnh hưởng lớn hơn với cộng đồng xã hội là công an đánh người và vấn đề tham nhũng.
Ai chịu trách nhiệm trong việc công an đánh người? Chỉ mới thấy những trường hợp đã xảy ra: nặng thì bị tù; nhẹ thì kỷ luật, giáng cấp, chuyển công tác, kiểm điểm. Tức là chỉ mới trừng trị những người làm sai, còn cơ quan chủ quản trực tiếp với thuộc cấp đã phạm pháp thì sao? Chẳng lẽ vô can?
Tham nhũng thì đã quá nhiều, không thể kể hết! Thử đem ra chuyện lớn nhất, ảnh hưởng tới cả một nền kinh tế quốc gia của tập đoàn đóng tàu thì sẽ thấy. Chỉ đem những người phạm tội trực tiếp bỏ tù, điều tra. Đáng lý ra trong trường hợp này cần phải làm rõ để có biện pháp thích nghi với những người có trách nhiệm. Không có người chi tiền vô tội vạ, hời hợt, kiểm kê qua loa, không rà soát thì làm sao kẻ trực tiếp có cơ hội cố ý làm sai để trục lợi. Không làm cho ra lẽ chuyện này thì người quyết định cao nhất trong tập đoàn, mặc dầu không phạm tội nhưng họ chính là kẻ gián tiếp nuôi dưỡng tội phạm. Người ta có thể nghi ngờ là đồng lõa cũng nên.
Từ ngày thành lập đảng cộng sản Vn đến nay thì đã quá nhiều vụ sai lầm lớn, nổi cộm như: cải cách ruộng đất, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, kinh tế tập trung, tù cải tạo, kinh tế mới, thuyền nhân… đều không ai nhận trách nhiệm cả. Tất cả những việc đã xảy ra đó đều phải chịu trách nhiệm chung dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Vn? Không thể chối cãi, lấp liếm, cười trừ mặc dù đặc tính chung của người Việt là sẵn sàng bỏ qua, dễ tha thứ. Những sự việc rành rành như thế mà các ông đứng đầu trong đảng không lẽ không ai nhận ra? Đây thuộc về trách nhiệm và liêm sĩ.
Gần đây, trong việc vi phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc đối với Vn, từ ông chủ tịch đảng, ông chủ tịch nước cho tới ông thủ tướng miệng câm như hến; trong khi người dân Bắc-Nam phản ứng rầm rộ; không ông nào lên tiếng trấn an người dân dù chỉ một lời. Thấy ông thủ tướng, ông chủ tịch nước chỉ mới tuyên bố không để mất biển đảo. Nói chung chung như thế chưa đủ. Còn trách nhiệm đối với quốc gia của các ông đâu? Ai? Các ông chỉ cần đứng ra giải thích với sinh viên học sinh và nhận trách nhiệm, đảng của các ông sẽ bảo vệ tổ quốc đến cùng. Tôi tin chắc rằng mọi người cũng an tâm phần nào vì có người đứng ra lãnh trách nhiệm; người ta cũng tin tưởng hơn, người đứng đầu của quốc gia luôn ở bên cạnh mình.
Các ông không một lời, trong khi đó sai các cấp thừa hành trấn an, trấn áp mọi người, bảo rằng tất cả để cho nhà nước lo. Nhưng mà ai là người đại diện đứng đầu, hứa phải chịu trách nhiệm? Đó mới là điều quan trọng.
Từ kinh nghiệm trong quá khứ, người ta đã nhìn thấy rằng đảng cộng sản Vn vô trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. Những cuộc biểu tình vừa qua để chứng tỏ cho QT thấy sự đoàn kết của người Việt và cũng là để nhắc nhở, đòi hỏi tinh thần chịu trách nhiệm của các ông đấy. Lên tiếng đi!
Tiếp đón, chiêu đãi, ôm hôn, ca ngợi tình hữu nghị với TQ thì có cả khối ông tham gia; đến khi người ta lật lọng thì mấy ông trốn biệt. Thế thì rõ ràng là các ông hèn với giặc, vô trách nhiệm đối với đất nước, vô lương tâm với những người dân bị tàu TQ cướp trên biển. Trong trường hợp này, vô trách nhiệm và vô lương tâm thật là một điều đáng sợ!
Đất nước bị gậm nhấm từng phần, từ kinh tế, lãnh thổ cho đến lãnh hải; đời sống người dân thất nghiệp, nghèo khổ càng ngày càng bị thu hẹp dần. Đến một ngày hoàn toàn bị lệ thuộc ngoại bang, bị đè đầu cưỡi cổ thì lúc đó trách nhiệm thuộc về ai? Trả lời sao với dân tộc? Hay là đảng các ông trốn biệt luôn? Không thì, khi người dân nổi lên, các ông lại trở thành Lê Chiêu Thống thời nay? Lúc đó thì đã muộn! Không ai mong lịch sử đen tối đó sẽ lập lại.
Nguyễn Dư
Vô trách nhiệm thì không đẹp mặt chút nào, nhưng cộng thêm cái vô lương tâm vào nữa thì lại càng đáng sợ hơn.
Câu chuyện vừa qua của một nạn nhân bị cướp, tiền rơi vãi ngoài đường, những người có mặt lúc đó xúm vào tranh giành, xem như là của trời cho. Đó là cái thói vô trách nhiệm đối với xã hội và vô lương tâm với nạn nhân. Thật là đáng sợ!
Hình ảnh một người đàn bà bị gia đình trói nằm giữa đường, đứa con nhỏ đến mở trói cho mẹ trong khi những người hàng xóm bàng quan coi như không phải là chuyện của mình! Nhưng nếu ai trong số đó lên tiếng chắc thể nào cũng không yên với kẻ chủ mưu: Chuyện của người khác sao lại đi xía vào? Hoặc, không được xen vào chuyện nội bộ người khác. Những cách ăn nói hồ đồ tương tự cũng đã thường xảy ra từ các cấp lãnh đạo quốc gia đối với thế giới. Họ không nghĩ những việc làm đó là vi phạm nhân quyền, dã man, mất tính người. Họ luôn nhân danh gia đình, tổ chức, quốc gia; thuộc về chuyện nội bộ của họ để bào chữa cho việc làm vô đạo.
Giữa lòng thành phố, rác thải chất hàng đống từ năm này qua năm nọ; đường xá ổ gà, lỗ cống không nắp đậy “nuốt” xe mặc kệ, không ai thèm đếm xỉa tới là do đâu ra vậy? Có phải chăng là từ cái thói vô trách nhiệm của tất cả mọi người, trong đó chính quyền địa phương phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề nhất.
Nói thêm về chuyện quan trọng hơn, ảnh hưởng lớn hơn với cộng đồng xã hội là công an đánh người và vấn đề tham nhũng.
Ai chịu trách nhiệm trong việc công an đánh người? Chỉ mới thấy những trường hợp đã xảy ra: nặng thì bị tù; nhẹ thì kỷ luật, giáng cấp, chuyển công tác, kiểm điểm. Tức là chỉ mới trừng trị những người làm sai, còn cơ quan chủ quản trực tiếp với thuộc cấp đã phạm pháp thì sao? Chẳng lẽ vô can?
Tham nhũng thì đã quá nhiều, không thể kể hết! Thử đem ra chuyện lớn nhất, ảnh hưởng tới cả một nền kinh tế quốc gia của tập đoàn đóng tàu thì sẽ thấy. Chỉ đem những người phạm tội trực tiếp bỏ tù, điều tra. Đáng lý ra trong trường hợp này cần phải làm rõ để có biện pháp thích nghi với những người có trách nhiệm. Không có người chi tiền vô tội vạ, hời hợt, kiểm kê qua loa, không rà soát thì làm sao kẻ trực tiếp có cơ hội cố ý làm sai để trục lợi. Không làm cho ra lẽ chuyện này thì người quyết định cao nhất trong tập đoàn, mặc dầu không phạm tội nhưng họ chính là kẻ gián tiếp nuôi dưỡng tội phạm. Người ta có thể nghi ngờ là đồng lõa cũng nên.
Từ ngày thành lập đảng cộng sản Vn đến nay thì đã quá nhiều vụ sai lầm lớn, nổi cộm như: cải cách ruộng đất, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, kinh tế tập trung, tù cải tạo, kinh tế mới, thuyền nhân… đều không ai nhận trách nhiệm cả. Tất cả những việc đã xảy ra đó đều phải chịu trách nhiệm chung dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Vn? Không thể chối cãi, lấp liếm, cười trừ mặc dù đặc tính chung của người Việt là sẵn sàng bỏ qua, dễ tha thứ. Những sự việc rành rành như thế mà các ông đứng đầu trong đảng không lẽ không ai nhận ra? Đây thuộc về trách nhiệm và liêm sĩ.
Gần đây, trong việc vi phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc đối với Vn, từ ông chủ tịch đảng, ông chủ tịch nước cho tới ông thủ tướng miệng câm như hến; trong khi người dân Bắc-Nam phản ứng rầm rộ; không ông nào lên tiếng trấn an người dân dù chỉ một lời. Thấy ông thủ tướng, ông chủ tịch nước chỉ mới tuyên bố không để mất biển đảo. Nói chung chung như thế chưa đủ. Còn trách nhiệm đối với quốc gia của các ông đâu? Ai? Các ông chỉ cần đứng ra giải thích với sinh viên học sinh và nhận trách nhiệm, đảng của các ông sẽ bảo vệ tổ quốc đến cùng. Tôi tin chắc rằng mọi người cũng an tâm phần nào vì có người đứng ra lãnh trách nhiệm; người ta cũng tin tưởng hơn, người đứng đầu của quốc gia luôn ở bên cạnh mình.
Các ông không một lời, trong khi đó sai các cấp thừa hành trấn an, trấn áp mọi người, bảo rằng tất cả để cho nhà nước lo. Nhưng mà ai là người đại diện đứng đầu, hứa phải chịu trách nhiệm? Đó mới là điều quan trọng.
Từ kinh nghiệm trong quá khứ, người ta đã nhìn thấy rằng đảng cộng sản Vn vô trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. Những cuộc biểu tình vừa qua để chứng tỏ cho QT thấy sự đoàn kết của người Việt và cũng là để nhắc nhở, đòi hỏi tinh thần chịu trách nhiệm của các ông đấy. Lên tiếng đi!
Tiếp đón, chiêu đãi, ôm hôn, ca ngợi tình hữu nghị với TQ thì có cả khối ông tham gia; đến khi người ta lật lọng thì mấy ông trốn biệt. Thế thì rõ ràng là các ông hèn với giặc, vô trách nhiệm đối với đất nước, vô lương tâm với những người dân bị tàu TQ cướp trên biển. Trong trường hợp này, vô trách nhiệm và vô lương tâm thật là một điều đáng sợ!
Đất nước bị gậm nhấm từng phần, từ kinh tế, lãnh thổ cho đến lãnh hải; đời sống người dân thất nghiệp, nghèo khổ càng ngày càng bị thu hẹp dần. Đến một ngày hoàn toàn bị lệ thuộc ngoại bang, bị đè đầu cưỡi cổ thì lúc đó trách nhiệm thuộc về ai? Trả lời sao với dân tộc? Hay là đảng các ông trốn biệt luôn? Không thì, khi người dân nổi lên, các ông lại trở thành Lê Chiêu Thống thời nay? Lúc đó thì đã muộn! Không ai mong lịch sử đen tối đó sẽ lập lại.
Nguyễn Dư
Có cần sợ Trung Quốc hay không?
Ngày Thứ Bẩy vừa qua, hai thứ trưởng ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc đã gặp nhau. Sau đó ông Hồ Xuân Sơn đã yết kiến Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc, người phụ trách các chính sách đối ngoại trong ban Thường Vụ Bộ Chính trị Cộng sản Trung Quốc. Bản tin của nhà nước cộng sản Việt Nam viết rằng: “Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung. Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần 4 tốt ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’.”
Đọc bản tin này người ta tưởng như đang nằm mơ. Quan hệ như thế nào thì gọi là “phát triển lành mạnh, ổn định?” Tầu cảnh sát trên biển (hải giám) của Trung Quốc đã cắt dây cáp của tàu thăm dò Việt Nam hai lần, mặc dù đã bị phản đối ngay sau lần thứ nhất. Dân chúng Việt Nam đã đi biểu tình ba cuối tuần liên tiếp để phản đối Trung Quốc lấn ép Việt Nam. Như vậy mà ông thứ trưởng ngoại giao lại nhận định là việc bang giao “lành mạnh, ổn định!” Và còn chính quyền Việt Nam vẫn còn nhắc lại những khẩu hiệu “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt!” Không phải chúng ta nằm mơ mà chính những người cầm quyền ở nước ta đang nằm mơ! Những khẩu hiệu “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà hai đảng Cộng sản vẫn đề cao hầu như không liên can gì tới thực tế trên mặt biển ở ngay ngoài khơi, trong vùng đặc quyền kinh tế của nước Việt Nam cả. Nó cũng không liên hệ gì tới lòng dân Việt Nam, như được phản ảnh trong một bài của một người ở Cần Thơ, ký tên Bạch Đằng, với tựa đề: Hãy vứt “Mười sáu chữ vàng” vào mặt kẻ dối trá!
Bản tin về cuộc hội đàm giữa ông Hồ Xuân Sơn với các ông Đới Bỉnh Quốc và Trương Chí Quân cũng hoàn toàn không liên can gì đến những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói rất hăng ở Nha Trang trước đó, với những hứa hẹn “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” của nước Việt Nam trên đất và hải phận. Bản tin trên khiến người ta càng thấy rõ những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói chẳng qua chỉ là lời nói suông, cốt xoa dịu nỗi phẫn uất trong lòng dân, chứ không có ảnh hưởng nào trong việc đối đãi với chính quyền Trung Quốc.
Ông Đới Bỉnh Quốc chính là người năm ngoái từng nói với nhiều nhân viên ngoại giao Mỹ, kể cả bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Mỹ, rằng vùng biển Đông Nam Á, tức biển Đông của nước ta, là một vùng “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh chỉ gọi Đài Loan, Tây Tạng là những vùng thuộc vào “quyền lợi cốt lõi” mà thôi. Nói như vậy tức là Đới Bỉnh Quốc muốn xác định Trung Quốc coi cả vùng Biển Đông cũng thuộc vào nước họ, giống như Đài Loan và Tây Tạng. Một ý tưởng rõ ràng muốn chiếm lấy của người làm của mình như vậy, không thể gọi là “lành mạnh” được! Và sau những vụ cắt dây cáp tầu và những cuộc biểu tình sôi nổi trong nước Việt Nam, trong cuộc hội thảo quốc tế gần đây ở Washington, tất cả những người thuyết trình, ngoài phái đoàn Trung Quốc, đều chỉ rõ những hành động lấn chiếm và uy hiếp của hải quân Trung Hoa trong vùng biển Đông. Một tình trạng sôi sục và uất hận như vậy cũng không thể gọi là “ổn định” được.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng phải nổi giận khi người lãnh đạo một nước láng giềng mô tả tất cả vùng biển thuộc nước Việt Nam là của họ! Bất cứ người Việt Nam nào nếu có dịp gặp ông Đới Bỉnh Quốc cũng phải lên tiếng nhắc nhở ông biết rằng quan niệm “quyền lợi cốt lõi” của ông bao trùm cả Biển Đông là sai, hoàn toàn sai lầm, và chúng tôi có đủ các chứng cớ lịch sử để chứng minh các quần đảo trong Biển Đông thuộc chủ quyền của nước Việt chúng tôi! Trong tình trạng như vậy, không ai gặp ông Đới Bình Quốc lại có thể nói rằng mối bang giao là “lành mạnh” và “ổn định!” Nhưng ông Hồ Xuân Sơn đã cúi đầu đồng ý với ông Đới Bỉnh Quốc; người mà cuối năm ngoái đã viết một bài 9000 chữ trên mạng bộ ngoại giao Trung Quốc trong đó ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”
Nếu ai tin được là lịch sử nước Trung Hoa chưa bao giờ có truyền thống bá quyền, thì có thể cũng tin như ông Hồ Xuân Sơn!
Một người đại diện ngoại giao cho nước Việt Nam không nhất thiết lúc nào cũng phải gây gổ với chính quyền Trung Quốc. Nhưng phải biết tỏ thái độ tự trọng. Trước những việc sai trái như cắt dây cáp tầu thăm dò đáy biển trong hải phận nước mình mà không chính thức lên tiếng phản đối, lại không dám ghi lời phản đối đó trên giấy trắng mực đen, tức là tự sỉ nhục mình và làm nhục cả quốc gia mà mình đóng vai đại diện. Trong các triều đại quân chủ ở nước ta, những sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa cũng không bao giờ phải sợ hãi thiên triều như vậy.
Gần đây một học giả ở Học viện Hoover nước Mỹ đã nhắc đến thời kỳ các nước Á Đông phải thần phục triều đình Trung Quốc, và đưa ra một ý kiến rất sai lầm khi viết rằng, “Các hoàng đế Trung Hoa coi các nước thần phục theo lối giống như các vị vua Âu Châu coi các thuộc địa của họ.” (The Chinese emperors viewed their vassal kingdoms the same as the European monarchs viewed their colonies). Điều này sai, vì mối liên hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và các nước chung quanh như Việt Nam, Cao Ly, vân vân, chỉ gây cảnh bất bình đẳng trên danh nghĩa mà thôi. Mối tương quan đó mô phỏng liên hệ giữa thiên tử nhà Chu và các nước chư hầu đời Xuân Thu, Chiến Quốc. Vua các nước nhỏ chịu công nhận nhà Chu là bề trên của mình, nhưng họ hoàn toàn độc lập về nọi phương diện. Các vị vua Việt Nam đời xưa chỉ được xưng là Vương, dành cho ông vua Tầu xưng Đế. Nhưng trong nước, người dân vẫn gọi vua mình là hoàng đế! Cũng như vua các nước Tề, nước Lỗ phải coi thiên tử nhà Chu trên danh nghĩa là vua của mình, vua nước nhỏ như Cao Ly, Việt Nam phải nhún mình, tự coi là phận dưới đối với vua nước Tầu. Nhưng họ chỉ có một bổn phận đối với vua nước Tầu là “cống tiến” một số phẩm vật, theo định kỳ, để bày tỏ mình ở địa vị thấp hơn. Sự thần phục trên danh nghĩa như thế không đưa tới các hậu quả như bóc lột về kinh tế, không có việc nước lớn xâm phạm chủ quyền các nước nhỏ về lãnh thổ, về ngoại giao, như thuộc địa của các nước Âu Châu phải chịu.
Nhưng chúng ta đang sống trong một thời đại khác hẳn những thời trước thế kỷ 19. Thời xưa, bên cạnh nước Việt Nam hay Cao Ly chỉ có một quốc gia lớn là Trung Hoa. Chịu nhún, xưng thần là một biện pháp ngoại giao, tránh không cho vua Tầu kiếm cớ xâm lăng nước mình; dù mình có đuổi được giặc đi thì dân cũng vẫn chịu khổ. Ngày nay, những nước nhỏ chung quanh nước Tầu không chịu cảnh cô đơn như vậy; vì quyền lợi các quốc gia trên thế giới đang liên hệ chồng chéo với nhau. Đứng trước một nước Trung Hoa lớn gấp hàng chục lần, nhưng quốc gia láng giềng biết tự trọng vẫn không cần phải “thần phục!”
Bà Yuriko Koike, cựu bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, hiện đang là lãnh tụ đảng đối lập Tự do Dân chủ mới viết trên nhật báo Japan Times nhắc nhở mọi người Nhật rằng “Việc bành trướng sức mạnh quân sự nhanh đến chóng mặt của Trung Quốc gần đây khiến nhiều người lo ngại. Nhưng dù ước tính ở mức cao nhất, thì hiện nay ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng chỉ sấp sỉ bằng của Nhật Bản; mà còn rất thấp so với ngân sách quân sự của ba nước gần Trung Quốc là Nhật Bản, Ấn Độ và Nga, cả ba nước có chung biên giới với Trung Quốc. Đó là chưa kể những nước láng giềng khác như Đại Hàn, Indonesia, và một đảo Đài Loan đang hiện đại hóa quân đội của họ.” Bà Yuriko Koike viết tiếp: “ Cho nên Trung Quốc không thách thức về mặt quân sự, mà là về chính trị và kinh tế. Nhưng chính thái độ ngoại giao hung hăng của Trung Quốc đã khiến các quốc gia Á châu khác thấy cần phải liên kết trong một hệ thống đa quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ, thay vì chấp nhận một hệ thống trong đó Trung Quốc đóng vai trò dẫn đầu.”
Bà Yuriko Koike bác bỏ lý thuyết “ngăn chặn” (containment) Trung Quốc như thời xưa đã ngăn chặn Liên bang Xô viết. Chính sách bành trướng của Trung Quốc không có tính chất quân sự như Nga xô ngày xưa. Bà nhắc lại binh thư Tôn Tử, khuyên “công tâm, công lương” hơn là “công thành.” Lấn áp về kinh tế, làm cho đối phương nản chí, sợ sệt, chứ không cần xâm chiếm lãnh thổ. Bà viết: “Cho tới gần đây, sự bành trướng bá quyền của Trung Quốc trong vùng vẫn theo đúng binh thư Tôn Tử.” Nhưng Trung Quốc cần phải thỏa hiệp với các nước chung quanh, chứ không thể gây sự, vì trong hơn một tỷ người Trung Quốc thì một nửa vẫn còn sống trong cảnh cự kỳ nghèo khó. Trung Quốc không thể cắt đứt những liên hệ kinh tế với thế giới được.
Nói đến kinh tế, người ta thường tỏ ý khiếp phục về tốc độ tăng trưởng, về cán cân mậu dịch thặng dư, về dự trữ ngoại tệ khổng lồ. Nhưng, như đã trình bầy nhiều lần trong mục này, đằng sau những con số lớn lao đó là một nền kinh tế còn đang trên đà phát triển và mất thăng bằng.
Sức bành trướng kinh tế của Trung Quốc dựa trên cảnh bóc lột người lao động để làm hàng xuất cảng. Hiện nay chính phủ Ôn Gia Bảo đang chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang lãnh vực tiêu thụ nội địa, để bớt tùy thuộc vào hàng xuất cảng. Chính sách này sẽ giúp nền kinh tế Trung Quốc cân bằng hơn, và nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Hiện nay tỷ lệ tiết kiệm của dân Trung Hoa lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa (GDP), vì họ bị “cưỡng bức tiết kiệm.” Việc thay đổi chính sách sẽ giúp dân được tiêu thụ nhiều hơn, và giảm bớt tỷ lệ tiết kiệm. Khi đó, cán cân mậu dịch của Trung Quốc sẽ thay đổi. Số thặng dư thương mại của nước Trung Hoa hiện nay là gần 320 tỷ đô la một năm, lớn bằng 6% GDP. Nếu tỷ lệ tiết kiệm giảm từ 45% xuống 39% GDP, tức là dân chúng có cơ hội tiêu thụ thêm 6% GDP nữa, thì con số thặng dư mậu dịch của Trung Quốc sẽ biến mất.
Chúng ta không có lý do nào phải khiếp sợ trước một Trung Quốc còn đang trên đường ngoi lên, về kinh tế cũng như về quân sự. Một chính quyền Việt Nam phải biết tự trọng, nếu thấy những việc khiến nhân dân bất bình thì phải nói lên, không khiếp nhược; nếu không thì làm nhục cả nước.
Đọc bản tin này người ta tưởng như đang nằm mơ. Quan hệ như thế nào thì gọi là “phát triển lành mạnh, ổn định?” Tầu cảnh sát trên biển (hải giám) của Trung Quốc đã cắt dây cáp của tàu thăm dò Việt Nam hai lần, mặc dù đã bị phản đối ngay sau lần thứ nhất. Dân chúng Việt Nam đã đi biểu tình ba cuối tuần liên tiếp để phản đối Trung Quốc lấn ép Việt Nam. Như vậy mà ông thứ trưởng ngoại giao lại nhận định là việc bang giao “lành mạnh, ổn định!” Và còn chính quyền Việt Nam vẫn còn nhắc lại những khẩu hiệu “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt!” Không phải chúng ta nằm mơ mà chính những người cầm quyền ở nước ta đang nằm mơ! Những khẩu hiệu “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà hai đảng Cộng sản vẫn đề cao hầu như không liên can gì tới thực tế trên mặt biển ở ngay ngoài khơi, trong vùng đặc quyền kinh tế của nước Việt Nam cả. Nó cũng không liên hệ gì tới lòng dân Việt Nam, như được phản ảnh trong một bài của một người ở Cần Thơ, ký tên Bạch Đằng, với tựa đề: Hãy vứt “Mười sáu chữ vàng” vào mặt kẻ dối trá!
Bản tin về cuộc hội đàm giữa ông Hồ Xuân Sơn với các ông Đới Bỉnh Quốc và Trương Chí Quân cũng hoàn toàn không liên can gì đến những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói rất hăng ở Nha Trang trước đó, với những hứa hẹn “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” của nước Việt Nam trên đất và hải phận. Bản tin trên khiến người ta càng thấy rõ những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói chẳng qua chỉ là lời nói suông, cốt xoa dịu nỗi phẫn uất trong lòng dân, chứ không có ảnh hưởng nào trong việc đối đãi với chính quyền Trung Quốc.
Ông Đới Bỉnh Quốc chính là người năm ngoái từng nói với nhiều nhân viên ngoại giao Mỹ, kể cả bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Mỹ, rằng vùng biển Đông Nam Á, tức biển Đông của nước ta, là một vùng “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh chỉ gọi Đài Loan, Tây Tạng là những vùng thuộc vào “quyền lợi cốt lõi” mà thôi. Nói như vậy tức là Đới Bỉnh Quốc muốn xác định Trung Quốc coi cả vùng Biển Đông cũng thuộc vào nước họ, giống như Đài Loan và Tây Tạng. Một ý tưởng rõ ràng muốn chiếm lấy của người làm của mình như vậy, không thể gọi là “lành mạnh” được! Và sau những vụ cắt dây cáp tầu và những cuộc biểu tình sôi nổi trong nước Việt Nam, trong cuộc hội thảo quốc tế gần đây ở Washington, tất cả những người thuyết trình, ngoài phái đoàn Trung Quốc, đều chỉ rõ những hành động lấn chiếm và uy hiếp của hải quân Trung Hoa trong vùng biển Đông. Một tình trạng sôi sục và uất hận như vậy cũng không thể gọi là “ổn định” được.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng phải nổi giận khi người lãnh đạo một nước láng giềng mô tả tất cả vùng biển thuộc nước Việt Nam là của họ! Bất cứ người Việt Nam nào nếu có dịp gặp ông Đới Bỉnh Quốc cũng phải lên tiếng nhắc nhở ông biết rằng quan niệm “quyền lợi cốt lõi” của ông bao trùm cả Biển Đông là sai, hoàn toàn sai lầm, và chúng tôi có đủ các chứng cớ lịch sử để chứng minh các quần đảo trong Biển Đông thuộc chủ quyền của nước Việt chúng tôi! Trong tình trạng như vậy, không ai gặp ông Đới Bình Quốc lại có thể nói rằng mối bang giao là “lành mạnh” và “ổn định!” Nhưng ông Hồ Xuân Sơn đã cúi đầu đồng ý với ông Đới Bỉnh Quốc; người mà cuối năm ngoái đã viết một bài 9000 chữ trên mạng bộ ngoại giao Trung Quốc trong đó ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”
Nếu ai tin được là lịch sử nước Trung Hoa chưa bao giờ có truyền thống bá quyền, thì có thể cũng tin như ông Hồ Xuân Sơn!
Một người đại diện ngoại giao cho nước Việt Nam không nhất thiết lúc nào cũng phải gây gổ với chính quyền Trung Quốc. Nhưng phải biết tỏ thái độ tự trọng. Trước những việc sai trái như cắt dây cáp tầu thăm dò đáy biển trong hải phận nước mình mà không chính thức lên tiếng phản đối, lại không dám ghi lời phản đối đó trên giấy trắng mực đen, tức là tự sỉ nhục mình và làm nhục cả quốc gia mà mình đóng vai đại diện. Trong các triều đại quân chủ ở nước ta, những sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa cũng không bao giờ phải sợ hãi thiên triều như vậy.
Gần đây một học giả ở Học viện Hoover nước Mỹ đã nhắc đến thời kỳ các nước Á Đông phải thần phục triều đình Trung Quốc, và đưa ra một ý kiến rất sai lầm khi viết rằng, “Các hoàng đế Trung Hoa coi các nước thần phục theo lối giống như các vị vua Âu Châu coi các thuộc địa của họ.” (The Chinese emperors viewed their vassal kingdoms the same as the European monarchs viewed their colonies). Điều này sai, vì mối liên hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và các nước chung quanh như Việt Nam, Cao Ly, vân vân, chỉ gây cảnh bất bình đẳng trên danh nghĩa mà thôi. Mối tương quan đó mô phỏng liên hệ giữa thiên tử nhà Chu và các nước chư hầu đời Xuân Thu, Chiến Quốc. Vua các nước nhỏ chịu công nhận nhà Chu là bề trên của mình, nhưng họ hoàn toàn độc lập về nọi phương diện. Các vị vua Việt Nam đời xưa chỉ được xưng là Vương, dành cho ông vua Tầu xưng Đế. Nhưng trong nước, người dân vẫn gọi vua mình là hoàng đế! Cũng như vua các nước Tề, nước Lỗ phải coi thiên tử nhà Chu trên danh nghĩa là vua của mình, vua nước nhỏ như Cao Ly, Việt Nam phải nhún mình, tự coi là phận dưới đối với vua nước Tầu. Nhưng họ chỉ có một bổn phận đối với vua nước Tầu là “cống tiến” một số phẩm vật, theo định kỳ, để bày tỏ mình ở địa vị thấp hơn. Sự thần phục trên danh nghĩa như thế không đưa tới các hậu quả như bóc lột về kinh tế, không có việc nước lớn xâm phạm chủ quyền các nước nhỏ về lãnh thổ, về ngoại giao, như thuộc địa của các nước Âu Châu phải chịu.
Nhưng chúng ta đang sống trong một thời đại khác hẳn những thời trước thế kỷ 19. Thời xưa, bên cạnh nước Việt Nam hay Cao Ly chỉ có một quốc gia lớn là Trung Hoa. Chịu nhún, xưng thần là một biện pháp ngoại giao, tránh không cho vua Tầu kiếm cớ xâm lăng nước mình; dù mình có đuổi được giặc đi thì dân cũng vẫn chịu khổ. Ngày nay, những nước nhỏ chung quanh nước Tầu không chịu cảnh cô đơn như vậy; vì quyền lợi các quốc gia trên thế giới đang liên hệ chồng chéo với nhau. Đứng trước một nước Trung Hoa lớn gấp hàng chục lần, nhưng quốc gia láng giềng biết tự trọng vẫn không cần phải “thần phục!”
Bà Yuriko Koike, cựu bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, hiện đang là lãnh tụ đảng đối lập Tự do Dân chủ mới viết trên nhật báo Japan Times nhắc nhở mọi người Nhật rằng “Việc bành trướng sức mạnh quân sự nhanh đến chóng mặt của Trung Quốc gần đây khiến nhiều người lo ngại. Nhưng dù ước tính ở mức cao nhất, thì hiện nay ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng chỉ sấp sỉ bằng của Nhật Bản; mà còn rất thấp so với ngân sách quân sự của ba nước gần Trung Quốc là Nhật Bản, Ấn Độ và Nga, cả ba nước có chung biên giới với Trung Quốc. Đó là chưa kể những nước láng giềng khác như Đại Hàn, Indonesia, và một đảo Đài Loan đang hiện đại hóa quân đội của họ.” Bà Yuriko Koike viết tiếp: “ Cho nên Trung Quốc không thách thức về mặt quân sự, mà là về chính trị và kinh tế. Nhưng chính thái độ ngoại giao hung hăng của Trung Quốc đã khiến các quốc gia Á châu khác thấy cần phải liên kết trong một hệ thống đa quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ, thay vì chấp nhận một hệ thống trong đó Trung Quốc đóng vai trò dẫn đầu.”
Bà Yuriko Koike bác bỏ lý thuyết “ngăn chặn” (containment) Trung Quốc như thời xưa đã ngăn chặn Liên bang Xô viết. Chính sách bành trướng của Trung Quốc không có tính chất quân sự như Nga xô ngày xưa. Bà nhắc lại binh thư Tôn Tử, khuyên “công tâm, công lương” hơn là “công thành.” Lấn áp về kinh tế, làm cho đối phương nản chí, sợ sệt, chứ không cần xâm chiếm lãnh thổ. Bà viết: “Cho tới gần đây, sự bành trướng bá quyền của Trung Quốc trong vùng vẫn theo đúng binh thư Tôn Tử.” Nhưng Trung Quốc cần phải thỏa hiệp với các nước chung quanh, chứ không thể gây sự, vì trong hơn một tỷ người Trung Quốc thì một nửa vẫn còn sống trong cảnh cự kỳ nghèo khó. Trung Quốc không thể cắt đứt những liên hệ kinh tế với thế giới được.
Nói đến kinh tế, người ta thường tỏ ý khiếp phục về tốc độ tăng trưởng, về cán cân mậu dịch thặng dư, về dự trữ ngoại tệ khổng lồ. Nhưng, như đã trình bầy nhiều lần trong mục này, đằng sau những con số lớn lao đó là một nền kinh tế còn đang trên đà phát triển và mất thăng bằng.
Sức bành trướng kinh tế của Trung Quốc dựa trên cảnh bóc lột người lao động để làm hàng xuất cảng. Hiện nay chính phủ Ôn Gia Bảo đang chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang lãnh vực tiêu thụ nội địa, để bớt tùy thuộc vào hàng xuất cảng. Chính sách này sẽ giúp nền kinh tế Trung Quốc cân bằng hơn, và nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Hiện nay tỷ lệ tiết kiệm của dân Trung Hoa lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa (GDP), vì họ bị “cưỡng bức tiết kiệm.” Việc thay đổi chính sách sẽ giúp dân được tiêu thụ nhiều hơn, và giảm bớt tỷ lệ tiết kiệm. Khi đó, cán cân mậu dịch của Trung Quốc sẽ thay đổi. Số thặng dư thương mại của nước Trung Hoa hiện nay là gần 320 tỷ đô la một năm, lớn bằng 6% GDP. Nếu tỷ lệ tiết kiệm giảm từ 45% xuống 39% GDP, tức là dân chúng có cơ hội tiêu thụ thêm 6% GDP nữa, thì con số thặng dư mậu dịch của Trung Quốc sẽ biến mất.
Chúng ta không có lý do nào phải khiếp sợ trước một Trung Quốc còn đang trên đường ngoi lên, về kinh tế cũng như về quân sự. Một chính quyền Việt Nam phải biết tự trọng, nếu thấy những việc khiến nhân dân bất bình thì phải nói lên, không khiếp nhược; nếu không thì làm nhục cả nước.
TRÍ THỨC LÂM TRẬN. ĐẢNG SẼ LÂM TỬ
Khi đất nước lâm nguy mới biết giá trị củaTrí thức – lòng dân , để duy trì quyền lực đảng cộng sản đã chối bỏ vai trò của tầng lớp trí thức , thậm chí xua đuổi đàn áp để viện nghiên cứu biển đông IDS phải đóng cửa dù rằng đảng chẳng tốn chút kinh phí nào cho hoạt động ích nước lợi dân này , đây là nơi hội tụ thành phần trí thức yêu nước bất vụ lợi nhằm mục đích đối phó với quân xâm lược từ phương bắc , lẽ ra họ đã cống hiến được nhiều hơn để khắc phục hậu quả kể từ ông cựu TT Phạm văn Đồng ký Công hàm bán nước mà cho đến nay đảng vẫn chưa dám minh bạch việc này trước toàn dân dù đa số người VN cả trong lẫn ngoài nước đã biết rõ việc này từ lâu và giặc Tầu đang dùng Công hàm này để chống lại VN trong mưu đồ xâm chiếm biển đông (Asia Time) . Đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm việc này trước toàn dân , Phạm văn Đồng không còn nhưng hậu quả để lại thì khó lường và bất lợi cho VN và sẽ là thiếu sót khi nhắc đến Công hàm bán nước mà quên đi ông HCM chính là kẻ đã ra lệnh .
Việc làm này cho thấy hành động của đảng cộng sản luôn đi ngược lại nguyện vọng toàn dân trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ . Thác bản giốc đã mất , Ải Nam quan đã thuộc về giặc Tầu , nhiều Km đất liền quân thù nuốt gọn ,vì ai ? Ai đã đan tâm làm việc này mà ngay cả Lê chiêu Thống còn không đành bán nước . Cần phải dẫn chứng thêm không?
May mắn cho VN là Trí thức không bỏ cuộc , điều này đã làm đảng cộng sản tức tối vì chính họ : Tầng lớp trí thức “cứng đầu” này là chướng ngại không cho phép đảng cộng sản bán rẻ VN cho Tầu , kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt . Ngôn từ của ban tuyên giáo cộng sản liệu có còn đủ để ngụy biện cho hành động đê hèn của đảng cộng sản trước sự ngạo mạn xấc láo của giặc Tầu từ những năm về trước đến tận giờ mà tên Tướng Tầu đòi “dạy cho VN bài học lớn hơn!” . Biển đông nước nhiều cũng không làm loãng được máu ngư dân VN . Sóng bạc đầu không xô nổi những vong hồn tử sĩ từ cuộc chiến bảo vệ biển nhà năm 1974… Cái tên Ngụy văn Thà đã đi vào Thi ca Trần Mạnh Hão và sẽ ở lại đó như một kỳ tích về lòng yêu nước của người VN .
Ngày Ông Võ văn Kiệt mất , đã có lời ra tiếng vào về cái chết quá nhiều nghi vấn của ông. Trong đó có việc ông Võ văn Kiệt không cho phép “nhân viên” Tầu mang súng và được quyền bắt người VN rồi báo cáo sau theo bài viết của một tác giả gởi đi từ VN cho Đài RFA được đăng ngày 27 tháng 6 năm 2011 . Nếu quả đúng như vậy thì cũng cầu mong linh hồn ông siêu thoát dù sao ông vẫn nghĩ được cứ đến ngày đó…Triêu người vui thì có triệu người buồn . Yêu nên tốt ghét nên xấu đời vốn dĩ đã vậy , thôi thì nghĩ đến nhân vô thập toàn mà tha thứ cho nhau những lỗi lầm sơ sót , Chân hay giả nghĩa lý gì khi từ bỏ cuộc đời này .
Công hay tội , anh hùng hay thằng hèn lịch sử rất sòng phẳng không ai có thể vo tròn hay bóp méo như đảng cộng sản đã từng đánh tráo lịch sử để nhồi sọ lừa dối lớp trẻ . Công bằng mà nói người cộng sản không phải ai cũng xấu cũng tồi như bọn thái thú đang thao túng nước nhà với sự tiếp sức của giặc Tầu . để thú nhận sai lầm điều mà con người cả đời theo đuổi không hề đơn giản , cần có thời gian và lòng can đảm . Nếu được hãy đợi đóng nắp quan tài rồi luận hùng hay hèn cũng chưa muộn .
Ngày mà sự kỳ thị “kẻ thắng người thua” vơi đi để Bắc Kỳ Trung Kỳ Nam Kỳ bớt kỳ…cục với nhau đó là ngày 04 tháng 4 năm 2011 . Ngày những tên thái thú bán nước xử “tội yêu nước” của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ . Ngày người VN yêu thương nhau nhiều hơn là ngày 05 tháng 6 năm 2011 tay trong tay xuống đường chống giặc Tầu bất chấp sự đe dọa của đảng cộng sản và sẽ còn mãi những ngày yêu thương tiếp diễn nhiều hơn cho đến khi không còn sự đe dọa xâm lược từ kẻ thù phương bắc , tất nhiên đó không phải là ngày dễ thương của Việt gian cộng sản cùng lũ giặc Tầu .
Đã đến lúc người VN không phân biệt chính kiến giai tầng xã hội đồng lòng đồng loạt đáp trả bọn giặc Tầu hiếu chiến tham tàn luôn muốn xâm chiếm biến VN thành Tây tạng thứ hai của chúng với sự tiếp tay của lũ Việt gian thái thú mang danh lãnh đạo cộng sản . Chúng chính là công cụ của kẻ thù cần loại bỏ . Thù trong giặc ngoài đã hiện nguyên hình . Trí thức cả trong và ngoài nước sẽ là người hướng đạo trong cuộc đấu tranh đầy gian khó này để đưa VN đến bến bờ Tự do , từ bỏ vĩnh viễn địa ngục cộng sản .
Cảm ơn Trí thức , cảm ơn những người đã dấn thân vì đất nước cùng những ai đang lâm vòng lao lý chỉ vì yêu nước thương dân , cả nước đang chờ đợi ngày toàn dân xuống đường hỏi tội bọn thái thú , Ngày Trí thức cả nước lâm trận để đất nước hồi sinh cũng chính là ngày lâm tử của bọn Việt gian bán nước .
nguoithathoc1959
Việc làm này cho thấy hành động của đảng cộng sản luôn đi ngược lại nguyện vọng toàn dân trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ . Thác bản giốc đã mất , Ải Nam quan đã thuộc về giặc Tầu , nhiều Km đất liền quân thù nuốt gọn ,vì ai ? Ai đã đan tâm làm việc này mà ngay cả Lê chiêu Thống còn không đành bán nước . Cần phải dẫn chứng thêm không?
May mắn cho VN là Trí thức không bỏ cuộc , điều này đã làm đảng cộng sản tức tối vì chính họ : Tầng lớp trí thức “cứng đầu” này là chướng ngại không cho phép đảng cộng sản bán rẻ VN cho Tầu , kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt . Ngôn từ của ban tuyên giáo cộng sản liệu có còn đủ để ngụy biện cho hành động đê hèn của đảng cộng sản trước sự ngạo mạn xấc láo của giặc Tầu từ những năm về trước đến tận giờ mà tên Tướng Tầu đòi “dạy cho VN bài học lớn hơn!” . Biển đông nước nhiều cũng không làm loãng được máu ngư dân VN . Sóng bạc đầu không xô nổi những vong hồn tử sĩ từ cuộc chiến bảo vệ biển nhà năm 1974… Cái tên Ngụy văn Thà đã đi vào Thi ca Trần Mạnh Hão và sẽ ở lại đó như một kỳ tích về lòng yêu nước của người VN .
Ngày Ông Võ văn Kiệt mất , đã có lời ra tiếng vào về cái chết quá nhiều nghi vấn của ông. Trong đó có việc ông Võ văn Kiệt không cho phép “nhân viên” Tầu mang súng và được quyền bắt người VN rồi báo cáo sau theo bài viết của một tác giả gởi đi từ VN cho Đài RFA được đăng ngày 27 tháng 6 năm 2011 . Nếu quả đúng như vậy thì cũng cầu mong linh hồn ông siêu thoát dù sao ông vẫn nghĩ được cứ đến ngày đó…Triêu người vui thì có triệu người buồn . Yêu nên tốt ghét nên xấu đời vốn dĩ đã vậy , thôi thì nghĩ đến nhân vô thập toàn mà tha thứ cho nhau những lỗi lầm sơ sót , Chân hay giả nghĩa lý gì khi từ bỏ cuộc đời này .
Công hay tội , anh hùng hay thằng hèn lịch sử rất sòng phẳng không ai có thể vo tròn hay bóp méo như đảng cộng sản đã từng đánh tráo lịch sử để nhồi sọ lừa dối lớp trẻ . Công bằng mà nói người cộng sản không phải ai cũng xấu cũng tồi như bọn thái thú đang thao túng nước nhà với sự tiếp sức của giặc Tầu . để thú nhận sai lầm điều mà con người cả đời theo đuổi không hề đơn giản , cần có thời gian và lòng can đảm . Nếu được hãy đợi đóng nắp quan tài rồi luận hùng hay hèn cũng chưa muộn .
Ngày mà sự kỳ thị “kẻ thắng người thua” vơi đi để Bắc Kỳ Trung Kỳ Nam Kỳ bớt kỳ…cục với nhau đó là ngày 04 tháng 4 năm 2011 . Ngày những tên thái thú bán nước xử “tội yêu nước” của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ . Ngày người VN yêu thương nhau nhiều hơn là ngày 05 tháng 6 năm 2011 tay trong tay xuống đường chống giặc Tầu bất chấp sự đe dọa của đảng cộng sản và sẽ còn mãi những ngày yêu thương tiếp diễn nhiều hơn cho đến khi không còn sự đe dọa xâm lược từ kẻ thù phương bắc , tất nhiên đó không phải là ngày dễ thương của Việt gian cộng sản cùng lũ giặc Tầu .
Đã đến lúc người VN không phân biệt chính kiến giai tầng xã hội đồng lòng đồng loạt đáp trả bọn giặc Tầu hiếu chiến tham tàn luôn muốn xâm chiếm biến VN thành Tây tạng thứ hai của chúng với sự tiếp tay của lũ Việt gian thái thú mang danh lãnh đạo cộng sản . Chúng chính là công cụ của kẻ thù cần loại bỏ . Thù trong giặc ngoài đã hiện nguyên hình . Trí thức cả trong và ngoài nước sẽ là người hướng đạo trong cuộc đấu tranh đầy gian khó này để đưa VN đến bến bờ Tự do , từ bỏ vĩnh viễn địa ngục cộng sản .
Cảm ơn Trí thức , cảm ơn những người đã dấn thân vì đất nước cùng những ai đang lâm vòng lao lý chỉ vì yêu nước thương dân , cả nước đang chờ đợi ngày toàn dân xuống đường hỏi tội bọn thái thú , Ngày Trí thức cả nước lâm trận để đất nước hồi sinh cũng chính là ngày lâm tử của bọn Việt gian bán nước .
nguoithathoc1959
HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG ĐI ĐẾN CHIẾN TRANH ?
Ngày hôm nay, trước những biến cố dồn dập trên thế giới, từ những cuộc cách mạng tự do, dân chủ ở Trung Đông, Bắc Phi, mà có người cho rằng ít hay nhiều đều có sự giúp đỡ gián tiếp hay trực tiến của Hoa Kỳ, và có hại cho Trung Cộng, vì Trung cộng như bị chặt chân chặt tay về những cơ sở thương mại của mình mới thành lập; qua những biến cố ở biển Đông Nam Á, tới lời tuyên bố gần đây của bà Ngoại trưởng Hoa kỳ Hillary Clinton, theo đó: “ Trung cộng bắt bớ những nhà đấu tranh cho dân chủ, ngăn cấm quyền tự do, chỉ làm cản trở lịch sử và đó chỉ là hành động của một thắng hề. “ Những sự kiện đó, có người cho rằng Hoa Kỳ và Trung cộng sẽ đi đến chiến tranh. Có người chủ trương ngược lại.
Chúng ta nghĩ thế nào ?
Quan niệm cho rằng Hoa Kỳ và Trung cộng sẽ đi đến chiến tranh:
Có 3 nguyên do chính đưa đến sự kiện làm cho một số người quan niệm rằng nhất định có chiến tranh giữa Trung cộng và Hoa kỳ: Quốc gia duy nhất ngày hôm nay thách thức vai trò độc tôn của Hoa Kỳ trên thế giới là Trung cộng; Sự tăng trưởng kinh tế gần đây của Trung cộng; và một khi kinh tế tăng trưởng thì sẽ đưa đến sự hình thành một đế quốc; Chính sách ngoại giao của Trung cộng.
Không ai chối cãi rằng ngày hôm nay quốc gia duy nhất thách thức vai trò độc tôn của Hoa Kỳ trên thế giới, sau khi đế quốc cộng sản Liên sô sụp đổ, đó là Trung cộng. Thêm vào đó, trục kinh tế thế giới đã chuyển sang châu Á Thái Bình Dương, mà trong kinh tế, vấn đề vận chuyển hàng hóa, đặc biệt bằng hàng hải, là một trong những khâu chính của kinh tế. Vì vậy, biển Đông Nam Á giữ vai trò quan trọng. Đó là chưa nói nó ngầm chứa dầu hỏa và những năng lượng cùng những khóang sản khác, mà quốc gia nào cũng muốn giành quyền khai thác.
Quan niệm nhất định có chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung cộng trở nên mạnh mẽ với những người lãnh đạo bảo thủ Trung cộng, còn quá bị tiêm nhiễm bới tư tưởng của Marx, cho rằng lịch sử là lịch sử của bạo động và của đấu tranh giai cấp, ở mức độ trong một quốc gia cũng như ở mức độ giữa những quốc gia với nhau. Cộng thêm, một tư tưởng xưa của người Tàu : ” Hữu nhân, tất hữu dục. Hữu dục, tất hữu tranh. Hữu tranh, tất hữu chiến.”, (Có con người là có lòng ham muốn. Có lòng ham muốn là có tranh giành. Có tranh giành là có chiến tranh).
Lý do thứ nhì, đó là sự tăng trưởng kinh tế của Trung cộng trong mấy thập niên nay và từ đó, cho rằng Trung cộng sẽ trở nên một đế quốc tranh giành ảnh hưởng với bất cứ đế quốc nào khác. Thực ra quan niệm: ” Có tiền thì có nanh, có vuốt “, cũng chẳng xa lạ gì với chúng ta; nhưng gần đây với nhà kinh tế Paul Kennedy, trong quyển sách mang tựa đề ” Sự Hưng vong của những đại cường quốc ” (The Rise and Fall of the great powers), đã hệ thống hóa tư tưởng này (1).
Thêm vào đó, gần đây nhất, 2 nhà nghiên cứu về Trung cộng, ông Peter Novarro và ông Greg Autry cho ra quyển sách mang tựa đề Chết dưới tay Trung Cộng, (Death bay China) (deathbychina.com) đã lên tiếng báo động rằng thế giới sẽ lâm vào tình trạng như thời Đệ Nhị thế Chiến, với Đức quốc xã.
Theo hai ông: ” Hòa bình, thịnh vượng và sức khỏe thế giới đang đối mặt với mối đe dọa lớn nhất kể từ thời Đức quốc xã: Một đảng cộng sản Tàu hùng mạnh, giầu có, tham nhũng, thối nát và tàn bạo với chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang trở nên mỗi ngày một mạnh.”
Hai ông tiếp:
” Họ (Trung cộng) đang nhắm tới các chiến lược công nghiệp và tìm mọi cách để những công nghiệp này được phát triển ở Trung cộng, gây tổn hại cho các công nghiệp đó ở ngay nước Mỹ, qua những chương trình trợ cấp xuất khẩu trái phép, thao túng thị trường tiền tệ, làm hàng giả, ăn cắp tài sản trí thức; để cho môi trường bị ô nhiễm và hủy hoại; bằng cách kìm hãm lương người thợ, làm cho tiêu chuẩn an toàn sức khỏe lao động ở mức độ thấp nhất, để làm cho không ai có thể cạnh tranh; và bằng cách tạo ra hàng rào ngăn cản để cho thị trường trung Cộng không có thể ai vào được.”
Lý do thứ ba, đó là đường lối ngoại giao của Trung cộng :
Mặc dầu về ngoại giao, Trung cộng không bao giờ mặt đối mặt, trực diện đương đầu với Hoa Kỳ ; nhưng trên thực tế, Trung cộng luôn luôn tìm cách xúi dục các nước đàn em, hay những tổ chức khủng bố ngầm chống Hoa Kỳ.
Người ta có thể nói đường lối ngoại giao này có từ thời cộng sản Lénine và nhất là với Staline. Những sự kiện lịch sử của Hội Nghị Yalta, mà nhiều người cho rằng đó là hội nghị chia đôi thế giới vào lúc sắp tàn Đệ Nhị Thế Chiến, giữa Rosevelt, Staline, Churchill, còn đó. Trong hội nghị, thì Staline không bao giờ tỏ ra chống đối Rosevelt, mà ngược lại còn nịnh bợ, chiều chuộng ông này ; nhưng trên thực tế thì hoàn toàn làm trái lại. Chẳng hạn như về vấn đề Ba Lan, theo nguyên tắc đã định là nước này phải có bầu cử tự do để dân có quyền chọn người lãnh đạo của mình; nhưng trên thực tế Staline đã xua quân chiếm Balan, đứng đằng sau đảng Cộng sản, nổi lên cướp chính quyền, và không bao giờ có bầu cử tự do.
Ngày hôm nay Trung cộng cũng gần như phần lớn bắt chước đường lối ngoại giao đó.
Có người còn nói, mặc dầu là cường quốc, nhưng Trung cộng không có một đường lối, một chiến lược ngoại giao nhất quán, chỉ là giật gấu, vá vai, có tính chất chống đỡ nhiều hơn.
Thật vậy, đây cũng là bị ảnh hưởng bởi quan niệm cộng sản, tất cả là do Bộ Chính trị quyết định. Hiện nay đương kim ngoại trưởng Trung cộng không có chân trong Bộ Chính trị. Vào thời xưa, của Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình, cũng như thời Staline, Brejnev của Liên Sô, Bộ chính trị chính chỉ là một người. Nhưng ngày hôm nay Bộ Chính trị Trung Cộng chia năm xẻ bảy, không ai có đủ uy tín và tài cán để lấy quyết định. Một thí dụ điển hình là quyết định trở lại tư tưởng Khổng Tử hay không, qua sự việc dựng tượng Khổng Tử cao 9,7 m và nặng mười mấy tấn ở quảng trường Thiên an Môn. Bỗng một hôm gần đây, tượng này bị biến đâu mất, sau đó một tuần lại trở về chỗ cũ. Có nhiều giả thuyết cắt nghĩa sự kiện này. Nhưng giả thuyết cho rằng có sự đấm đá trong Bộ Chính Trị, phe cải cách, đòi từ bỏ tư tưởng Mác Lê Mao, trở về Khổng Tử, phe bảo thủ đòi giữ vững tư tưởng cộng sản, giả thuyết này theo tôi là có lý nhất. Chứ người thường làm sao mà có thể di chuyển một bức tượng khổng lồ như vậy.
Từ đó, nhiều người dẫn lời nói của Ngô Khởi, một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Tàu, cách đây cả 2500 năm : « Phàm cái cớ khởi binh có năm : một là tranh danh, hai là tranh lợi, ba là tích ác, bốn là loạn, năm là nhân đói «, suy đoán là chiến tranh giữa Mỹ và Trung cộng không thể nào tránh khỏi, vì nếu chúng ta xét lịch sử cộng sản hiện đại, thì chúng ta thấy nó đúng như vậy. Chẳng hạn như khi Trung cộng dạy cho cộng sản Việt Nam một bài học vào năm 1978, gần như hội đủ 5 điều kiện đó. Cũng như cộng sản Việt nam nhất định đánh vào miền Nam là cũng vậy, mặc dầu chúng cố gói ghém bằng những mỹ từ. Thêm vào đó giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ Hồ chí Minh cho tới tay em Lê Duẫn, Lê đức Thọ, còn bị lâm vào cảnh « Con nít bị Nga Tàu xúi ăn cứt gà «. Chính vì vậy mà Nixon, khi nhận xét về chiến tranh Việt Nam, ông có nói : « Trung cộng chống Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng. »
Hiện nay, có một số người ca tụng Phạm bình Minh, con trai Nguyễn cơ Thạch, cho rằng ông này có tài cán, có đủ thẩm quyền và quyết định để thương thuyết với Hoa Kỳ và ngoại quốc, vì ông là Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao.
Lầm, vì với đảng cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn là do đảng quyết định, Phạm bình Minh mới chỉ vừa trúng tuyển vào trong thành phần 200 người Ủy viên Trung Ương đảng, với địa vị là dự khuyết, chỉ được ngồi nghe chứ chưa được phát biểu (Theo nội qui của Đảng), nói chi đến lấy quyết định quan trọng về ngoại giao. Ngay cả với thời Nguyễn cơ Thạch ( tên thật là Phạm văn Cương), mặc dầu đứng thứ 7 thứ 8 trong Bộ Chính Trị (thời đó), nhưng quyết định quan trọng là từ Lê Duẫn, Lê đức Thọ. Chẳng hạn như trong cuộc hội đàm về Hiệp định Paris năm 1973, người quyết định chính là Lê đức Thọ, những người như Xuân Thủy, Trưởng Phái đoàn, Nguyễn cơ Thạch, Hà văn Lâu, Phó Trưởng Phái đoàn là chỉ để cho Lê đức Thọ sai vặt. Đấy là chưa nói đến những con người này là những con người bản chất cộng sản, ác ôn, côn đồ, tiểu nhân, khi được thời được thế thì vác mặt lên, khi không gặp thời thì « Lạy ông, lạy ngài « , qụy lụy, chứ chẳng nắm vững về tình hình cũng như chính sách và chiến lược ngoại giao của các cường quốc. Tiêu biểu là Lê đức Thọ, được chính những người cộng sản, đồng đảng của mình đặt cho biệt danh là « Anh Sáu Búa, anh Sáu Tú bà và anh Sáu Hèn « . Anh Sáu là vì đứng 6 trong Bộ Chính Trị, búa là vì chủ trương dùng búa để giết người để tiết kiệm đạn, tú bà là dùng phụ nữ để cống hiến cho Hồ chí Minh, Lê Duẫn, những người khác trong Bộ Chính trị, để mua chuộc, sau đó thì khống chế. Anh Sáu hèn, vì khi « Chiến thắng 1975 «, đang được thời, vảnh mặt lên, ra lệnh cho Đại sứ Pháp là ông Mérillon, phải rời Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ ; sau đó cần đến Pháp thì lại xuống nước, qụy lụy, năn nỉ, như việc xin vào chữa bệnh ở nhà thương Val de Grace ở Paris.
Chính vì hiện nay, ở Trung cộng và ở Việt Nam, đường lối ngoại giao là do đảng cộng sản quyết định, mà trong đó thành phần giáo điều, nhất định bám vào lý thuyết Mác Lê Mao, đã lỗi thời, thanh phần này không ít, nên có người cho rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung cộng là không thể nào tránh khỏi.
Quan niệm ngược lại cho rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung Cộng khó có thể xẩy ra.
Chiến tranh đây, chúng ta phải hiểu nghĩa như thế nào? Chiến tranh ý thức hệ? Chiến tranh kinh tế? Chiến tranh quân sự?
Nếu là chiến tranh ý thức hệ và kinh tế, thì nó đã xẩy ra từ lâu giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Việc Hoa kỳ thiết lập những đài phát thanh, truyền những tin tức trung thực, để phá vỡ bức màn sắt thông tin tuyên truyền lừa dối, bịp bợm dân của Trung cộng; việc Hoa Kỳ tố cáo Trung cộng đàn áp dân, vi phạm nhân quyền, thực thi chính sách diệt chủng với các dân tộc thiểu số, đối với Tây Tạng. Đó là chiến tranh ý thức hệ rồi.
Chiến tranh kinh tế : việc Trung cộng kìm lương người thợ ở mức độ thấp, làm cho hãng xưởng Hoa Kỳ ham nhân công rẻ, đổ sang đầu tư ở Trung cộng, làm cho thiếu công ăn việc làm ở Hoa Kỳ, làm thất nghiệp cao ; thêm nưã Trung cộng còn kìm giá đồng Nhân dân tệ rẻ hơn từ 15 đến 25% so với đồng $, trên giá thị trường, 2 sự kiện này làm cho hàng Trung cộng được sản xuất rẻ và dễ xuất cảng. Đấy là chưa nói tới việc làm hàng giả, sao chép trái phép, làm cho thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ thiệt hại cả trăm tỷ $ một năm. Đó chính là chiến tranh kinh tế.
Tuy nhiên từ chiến tranh ý thức hệ, kinh tế tới chiến tranh quân sự, ở mức độ đại chiến, thì quãng đường còn quá xa, vì chỉ cần 2 lý do chính sau đây:1) Cán cân quân sự giữa Hoa Kỳ và trung cộng còn quá chênh lệch, nhất là về kỹ thuật chiến tranh, về không quân và hải quân; 2) Hoa kỳ muốn khuất phục Trung cộng bằng chiến tranh ý thức hệ và kinh tế, chứ không bằng quân sự, theo kiểu: ” Thứ nhất là công tâm, thứ nhì đến công lương, thứ ba mới tới công thành “( 1)
Thực vậy cán quân quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung cộng còn quá chênh lệch. Không cần nhìn đâu xa, chúng ta chỉ cần nhìn vào ngân sách quốc phòng thì chúng ta rõ: Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ năm 2010 là 722,1 tỷ $, gấp hơn 5 lần ngân sách quốc phòng của Trung cộng là 134,5 tỷ, đứng hàng thứ nhì; sau đó là Nga với 80 tỷ; rồi tới Nhật bản với 60,6 tỷ; tới Anh ( 56,5 tỷ ;, Pháp (42,6 tỷ) và Đức (41,2 tỷ)-( Theo Le Monde – Bilan stratégique 2011).
Thực ra, trình độ quân sự, khoa học kỹ thuật của Trung cộng hiện nay còn chưa có thể sánh với Liên sô thời sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ở đây tôi không thể đi vào chi tiết ; nhưng chúng ta thấy hiện nay Trung cộng còn phải mua hàng không mẫu hạm, máy bay, tầu ngầm và nhiều võ khí khác từ Nga. Đây là một bằng cớ rõ ràng.
Không những Trung cộng về mặt quân sự nói chung, đặc biệt là hải quân, không quân và không gian còn thua xa Hoa kỳ. Đây tôi chỉ cho một con số nhỏ về không gian : Hiện nay có 800 vệ tinh không gian để quan sát, để lấy tin tức về đủ mọi mặt, như khí tượng, quan sát trái đất v.v.., tất nhiên trong đó có quân sự, riêng Hoa Kỳ đã chiếm 400 cái.
Nói như ông Reagan, thời còn cộng sản Liên Sô : « Sức mạnh quân sự Liên sô là chỉ để đàn áp, dọa dân, dọa những tay em và những nước láng giềng. » Ngày hôm nay sức mạnh quân sự của Trung cộng cũng chỉ là vậy.
Hơn thế nữa, nếu có chiến tranh giữa Trung cộng và Hoa Kỳ hay một quốc gia nào trong vùng, làm khuấy động biển Đông Nam Á, thì quốc gia bị thiệt hại nhiều nhất về kinh tế, chính là Trung cộng :
Hiện nay ngoại thương chiếm 1/3 tổng sản lượng quốc gia Trung cộng, gần 2 000 tỷ $, trong đó gần như chỉ có ngoại thương với Hoa Kỳ là thặng dư cao với gần 200 tỷ, và thặng dư với Việt Nam khoảng 13 tỷ, vì Việt Nam nhập cảng của Trung cộng khoảng 19 tỷ, xuất cảng khoảng 6 tỷ.
Hơn thế nữa, hiện nay 80% nhiên liệu tiêu dùng bởi Trung Cộng là do con đường đi từ Trung Đông qua eo biển Malacca. Nếu có chiến tranh, biển Đông Nam Á bị khuấy động, con đường vận chuyển này bị tắc nghẽn, thì Trung cộng không còn con đường nhiên liệu nào để thay thế. Một khi nhiên liệu không có, các hãng xưởng cùng hoạt động kinh tế bị ngừng trệ, thì hậu quả thật to lớn và khó lường.
Chính vì vậy mà có giả thuyết cho rằng không có chiến tranh quân sự to lớn giữa Trung Cộng và Hoa kỳ, vì chính Trung cộng không muốn, khi tiên đoán những hậu quả của nó.
Ngay cả Hoa kỳ cũng vậy, theo thiển ý của tôi, vì nếu chúng ta xét chiến lược ngoại giao của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh, đánh xập đế quốc cộng sản Liên sô, thì Hoa Kỳ đã áp dụng chiến lược của Tôn Tử, cũng một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Tàu :
« Cho nên người giỏi dùng binh, đuổi quân người mà không phải chiến, hạ thành người mà không phải đánh, hủy nước người mà không phải lâu. »
Trước đó ông có nói :
« Phàm cách dùng binh, lành nước là hạng trên, vỡ nước là hạng kế ; lành quân là hạng trên, vỡ quân là hạng kém… Không đánh mà khuất phục được quân người, ấy là người giỏi trong những người giỏi. » ( Tôn Ngô Binh pháp – Thiên Mưu công – do Ngô văn Triện dịch).
Quả chiến thắng của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh là một chiến thắng to lớn. Và theo tôi nghĩ Hoa Kỳ đang sao y bản chính với Trung cộng, theo chiến lược : « Thứ nhất là công tâm, sau đến công lương, thứ ba mới tới công thành ».
Công tâm đây là dùng chiến tranh tâm lý, ý thức hệ, sau đó là dùng chiến tranh kinh tế (công lương), và đối đế mới dùng đến chiến tranh quân sự tức công thành.
Bởi lẽ đó tiên đoán có chiến tranh quân sự to lớn giữa Hoa Kỳ và Trung cộng là không đúng, vì chính Hoa Kỳ cũng chưa muốn dùng đến quân sự.
Thực ra, vấn đề tiên đoán tương lai là một việc làm vô cùng khó khăn và cần có một sự thận trọng tối đa. Xưa kia, Hégel, một triết gia Đức,vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, tiên đoán tương lai, nói đến sự Tổng hợp hòa bình của lịch sử, và nhìn sự tổng hợp này qua hình ảnh của Napoléon đệ Nhất. Nhưng sau đó người ta thấy chính Napoléon đã gây bao chiến tranh, bao đau thương cho nhiều quốc gia dân tộc Âu châu, cuối cùng ông bị hạ bệ. Đồ đệ của Hégel là Karl Marx, tiên đoán sự kết thúc của lịch sử nhân loại là chế độ cộng sản.
Chúng ta thấy gì sau đó ?
Từ ngày Lénine cướp chính quyền năm 1917 cho tới khi Liên sô sụp đổ năm 1991, lịch sử nhân loại đã có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu; nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản, với 100 triệu người chết. ( Theo Stéphane Courtois và Margolin – Le Livre noire du Communisme). Và vẫn còn tiếp diễn với chế độ cộng sản Trung quốc, Việt Nam, Bắc Hàn va Cu ba.
Nói rằng : « Nhất định có chiến tranh quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng « là không đúng. Nhưng ngược lại, nói : « Nhất định không có chiến tranh quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung cộng » cũng không đúng luôn.
Là một quốc khách, một nhà làm chiến lược quân sự và ngoại giao là phải tiên đoán tất cả những khả thế có thể xẩy ra, để đối phó. Nếu có chiến tranh thì phải làm gì ? Nếu không có chiến tranh thì phải làm gì ? Cũng như một người tướng giỏi cầm quân ra trận là phải tiên đoán tất cả tình huống có thể xẩy ra. Nếu chiến thắng thì như thế nào. Nếu chiến bại thì như thế nào. Rút quân như thế nào ?
Là người Việt nam, bất cứ trong tình huống nào, trước hết chúng ta phải tranh thủ bằng mọi cách để tiến tới thể chế Dân chủ và Tự do. Vì chỉ có Dân chủ và Tự do mới có thể quy tụ nhân tâm về một mối, lãnh đạo đủ quyền uy, quốc gia đủ sức mạnh để tranh thủ lại chủ quyền, đoạt lại lãnh thổ, lãnh hải mà bọn cộng sản Việt nam đã dâng hiến cho Bắc phương.
Paris ngày 29/06/2011
Chu chi Nam
Chúng ta nghĩ thế nào ?
Quan niệm cho rằng Hoa Kỳ và Trung cộng sẽ đi đến chiến tranh:
Có 3 nguyên do chính đưa đến sự kiện làm cho một số người quan niệm rằng nhất định có chiến tranh giữa Trung cộng và Hoa kỳ: Quốc gia duy nhất ngày hôm nay thách thức vai trò độc tôn của Hoa Kỳ trên thế giới là Trung cộng; Sự tăng trưởng kinh tế gần đây của Trung cộng; và một khi kinh tế tăng trưởng thì sẽ đưa đến sự hình thành một đế quốc; Chính sách ngoại giao của Trung cộng.
Không ai chối cãi rằng ngày hôm nay quốc gia duy nhất thách thức vai trò độc tôn của Hoa Kỳ trên thế giới, sau khi đế quốc cộng sản Liên sô sụp đổ, đó là Trung cộng. Thêm vào đó, trục kinh tế thế giới đã chuyển sang châu Á Thái Bình Dương, mà trong kinh tế, vấn đề vận chuyển hàng hóa, đặc biệt bằng hàng hải, là một trong những khâu chính của kinh tế. Vì vậy, biển Đông Nam Á giữ vai trò quan trọng. Đó là chưa nói nó ngầm chứa dầu hỏa và những năng lượng cùng những khóang sản khác, mà quốc gia nào cũng muốn giành quyền khai thác.
Quan niệm nhất định có chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung cộng trở nên mạnh mẽ với những người lãnh đạo bảo thủ Trung cộng, còn quá bị tiêm nhiễm bới tư tưởng của Marx, cho rằng lịch sử là lịch sử của bạo động và của đấu tranh giai cấp, ở mức độ trong một quốc gia cũng như ở mức độ giữa những quốc gia với nhau. Cộng thêm, một tư tưởng xưa của người Tàu : ” Hữu nhân, tất hữu dục. Hữu dục, tất hữu tranh. Hữu tranh, tất hữu chiến.”, (Có con người là có lòng ham muốn. Có lòng ham muốn là có tranh giành. Có tranh giành là có chiến tranh).
Lý do thứ nhì, đó là sự tăng trưởng kinh tế của Trung cộng trong mấy thập niên nay và từ đó, cho rằng Trung cộng sẽ trở nên một đế quốc tranh giành ảnh hưởng với bất cứ đế quốc nào khác. Thực ra quan niệm: ” Có tiền thì có nanh, có vuốt “, cũng chẳng xa lạ gì với chúng ta; nhưng gần đây với nhà kinh tế Paul Kennedy, trong quyển sách mang tựa đề ” Sự Hưng vong của những đại cường quốc ” (The Rise and Fall of the great powers), đã hệ thống hóa tư tưởng này (1).
Thêm vào đó, gần đây nhất, 2 nhà nghiên cứu về Trung cộng, ông Peter Novarro và ông Greg Autry cho ra quyển sách mang tựa đề Chết dưới tay Trung Cộng, (Death bay China) (deathbychina.com) đã lên tiếng báo động rằng thế giới sẽ lâm vào tình trạng như thời Đệ Nhị thế Chiến, với Đức quốc xã.
Theo hai ông: ” Hòa bình, thịnh vượng và sức khỏe thế giới đang đối mặt với mối đe dọa lớn nhất kể từ thời Đức quốc xã: Một đảng cộng sản Tàu hùng mạnh, giầu có, tham nhũng, thối nát và tàn bạo với chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang trở nên mỗi ngày một mạnh.”
Hai ông tiếp:
” Họ (Trung cộng) đang nhắm tới các chiến lược công nghiệp và tìm mọi cách để những công nghiệp này được phát triển ở Trung cộng, gây tổn hại cho các công nghiệp đó ở ngay nước Mỹ, qua những chương trình trợ cấp xuất khẩu trái phép, thao túng thị trường tiền tệ, làm hàng giả, ăn cắp tài sản trí thức; để cho môi trường bị ô nhiễm và hủy hoại; bằng cách kìm hãm lương người thợ, làm cho tiêu chuẩn an toàn sức khỏe lao động ở mức độ thấp nhất, để làm cho không ai có thể cạnh tranh; và bằng cách tạo ra hàng rào ngăn cản để cho thị trường trung Cộng không có thể ai vào được.”
Lý do thứ ba, đó là đường lối ngoại giao của Trung cộng :
Mặc dầu về ngoại giao, Trung cộng không bao giờ mặt đối mặt, trực diện đương đầu với Hoa Kỳ ; nhưng trên thực tế, Trung cộng luôn luôn tìm cách xúi dục các nước đàn em, hay những tổ chức khủng bố ngầm chống Hoa Kỳ.
Người ta có thể nói đường lối ngoại giao này có từ thời cộng sản Lénine và nhất là với Staline. Những sự kiện lịch sử của Hội Nghị Yalta, mà nhiều người cho rằng đó là hội nghị chia đôi thế giới vào lúc sắp tàn Đệ Nhị Thế Chiến, giữa Rosevelt, Staline, Churchill, còn đó. Trong hội nghị, thì Staline không bao giờ tỏ ra chống đối Rosevelt, mà ngược lại còn nịnh bợ, chiều chuộng ông này ; nhưng trên thực tế thì hoàn toàn làm trái lại. Chẳng hạn như về vấn đề Ba Lan, theo nguyên tắc đã định là nước này phải có bầu cử tự do để dân có quyền chọn người lãnh đạo của mình; nhưng trên thực tế Staline đã xua quân chiếm Balan, đứng đằng sau đảng Cộng sản, nổi lên cướp chính quyền, và không bao giờ có bầu cử tự do.
Ngày hôm nay Trung cộng cũng gần như phần lớn bắt chước đường lối ngoại giao đó.
Có người còn nói, mặc dầu là cường quốc, nhưng Trung cộng không có một đường lối, một chiến lược ngoại giao nhất quán, chỉ là giật gấu, vá vai, có tính chất chống đỡ nhiều hơn.
Thật vậy, đây cũng là bị ảnh hưởng bởi quan niệm cộng sản, tất cả là do Bộ Chính trị quyết định. Hiện nay đương kim ngoại trưởng Trung cộng không có chân trong Bộ Chính trị. Vào thời xưa, của Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình, cũng như thời Staline, Brejnev của Liên Sô, Bộ chính trị chính chỉ là một người. Nhưng ngày hôm nay Bộ Chính trị Trung Cộng chia năm xẻ bảy, không ai có đủ uy tín và tài cán để lấy quyết định. Một thí dụ điển hình là quyết định trở lại tư tưởng Khổng Tử hay không, qua sự việc dựng tượng Khổng Tử cao 9,7 m và nặng mười mấy tấn ở quảng trường Thiên an Môn. Bỗng một hôm gần đây, tượng này bị biến đâu mất, sau đó một tuần lại trở về chỗ cũ. Có nhiều giả thuyết cắt nghĩa sự kiện này. Nhưng giả thuyết cho rằng có sự đấm đá trong Bộ Chính Trị, phe cải cách, đòi từ bỏ tư tưởng Mác Lê Mao, trở về Khổng Tử, phe bảo thủ đòi giữ vững tư tưởng cộng sản, giả thuyết này theo tôi là có lý nhất. Chứ người thường làm sao mà có thể di chuyển một bức tượng khổng lồ như vậy.
Từ đó, nhiều người dẫn lời nói của Ngô Khởi, một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Tàu, cách đây cả 2500 năm : « Phàm cái cớ khởi binh có năm : một là tranh danh, hai là tranh lợi, ba là tích ác, bốn là loạn, năm là nhân đói «, suy đoán là chiến tranh giữa Mỹ và Trung cộng không thể nào tránh khỏi, vì nếu chúng ta xét lịch sử cộng sản hiện đại, thì chúng ta thấy nó đúng như vậy. Chẳng hạn như khi Trung cộng dạy cho cộng sản Việt Nam một bài học vào năm 1978, gần như hội đủ 5 điều kiện đó. Cũng như cộng sản Việt nam nhất định đánh vào miền Nam là cũng vậy, mặc dầu chúng cố gói ghém bằng những mỹ từ. Thêm vào đó giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ Hồ chí Minh cho tới tay em Lê Duẫn, Lê đức Thọ, còn bị lâm vào cảnh « Con nít bị Nga Tàu xúi ăn cứt gà «. Chính vì vậy mà Nixon, khi nhận xét về chiến tranh Việt Nam, ông có nói : « Trung cộng chống Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng. »
Hiện nay, có một số người ca tụng Phạm bình Minh, con trai Nguyễn cơ Thạch, cho rằng ông này có tài cán, có đủ thẩm quyền và quyết định để thương thuyết với Hoa Kỳ và ngoại quốc, vì ông là Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao.
Lầm, vì với đảng cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn là do đảng quyết định, Phạm bình Minh mới chỉ vừa trúng tuyển vào trong thành phần 200 người Ủy viên Trung Ương đảng, với địa vị là dự khuyết, chỉ được ngồi nghe chứ chưa được phát biểu (Theo nội qui của Đảng), nói chi đến lấy quyết định quan trọng về ngoại giao. Ngay cả với thời Nguyễn cơ Thạch ( tên thật là Phạm văn Cương), mặc dầu đứng thứ 7 thứ 8 trong Bộ Chính Trị (thời đó), nhưng quyết định quan trọng là từ Lê Duẫn, Lê đức Thọ. Chẳng hạn như trong cuộc hội đàm về Hiệp định Paris năm 1973, người quyết định chính là Lê đức Thọ, những người như Xuân Thủy, Trưởng Phái đoàn, Nguyễn cơ Thạch, Hà văn Lâu, Phó Trưởng Phái đoàn là chỉ để cho Lê đức Thọ sai vặt. Đấy là chưa nói đến những con người này là những con người bản chất cộng sản, ác ôn, côn đồ, tiểu nhân, khi được thời được thế thì vác mặt lên, khi không gặp thời thì « Lạy ông, lạy ngài « , qụy lụy, chứ chẳng nắm vững về tình hình cũng như chính sách và chiến lược ngoại giao của các cường quốc. Tiêu biểu là Lê đức Thọ, được chính những người cộng sản, đồng đảng của mình đặt cho biệt danh là « Anh Sáu Búa, anh Sáu Tú bà và anh Sáu Hèn « . Anh Sáu là vì đứng 6 trong Bộ Chính Trị, búa là vì chủ trương dùng búa để giết người để tiết kiệm đạn, tú bà là dùng phụ nữ để cống hiến cho Hồ chí Minh, Lê Duẫn, những người khác trong Bộ Chính trị, để mua chuộc, sau đó thì khống chế. Anh Sáu hèn, vì khi « Chiến thắng 1975 «, đang được thời, vảnh mặt lên, ra lệnh cho Đại sứ Pháp là ông Mérillon, phải rời Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ ; sau đó cần đến Pháp thì lại xuống nước, qụy lụy, năn nỉ, như việc xin vào chữa bệnh ở nhà thương Val de Grace ở Paris.
Chính vì hiện nay, ở Trung cộng và ở Việt Nam, đường lối ngoại giao là do đảng cộng sản quyết định, mà trong đó thành phần giáo điều, nhất định bám vào lý thuyết Mác Lê Mao, đã lỗi thời, thanh phần này không ít, nên có người cho rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung cộng là không thể nào tránh khỏi.
Quan niệm ngược lại cho rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung Cộng khó có thể xẩy ra.
Chiến tranh đây, chúng ta phải hiểu nghĩa như thế nào? Chiến tranh ý thức hệ? Chiến tranh kinh tế? Chiến tranh quân sự?
Nếu là chiến tranh ý thức hệ và kinh tế, thì nó đã xẩy ra từ lâu giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Việc Hoa kỳ thiết lập những đài phát thanh, truyền những tin tức trung thực, để phá vỡ bức màn sắt thông tin tuyên truyền lừa dối, bịp bợm dân của Trung cộng; việc Hoa Kỳ tố cáo Trung cộng đàn áp dân, vi phạm nhân quyền, thực thi chính sách diệt chủng với các dân tộc thiểu số, đối với Tây Tạng. Đó là chiến tranh ý thức hệ rồi.
Chiến tranh kinh tế : việc Trung cộng kìm lương người thợ ở mức độ thấp, làm cho hãng xưởng Hoa Kỳ ham nhân công rẻ, đổ sang đầu tư ở Trung cộng, làm cho thiếu công ăn việc làm ở Hoa Kỳ, làm thất nghiệp cao ; thêm nưã Trung cộng còn kìm giá đồng Nhân dân tệ rẻ hơn từ 15 đến 25% so với đồng $, trên giá thị trường, 2 sự kiện này làm cho hàng Trung cộng được sản xuất rẻ và dễ xuất cảng. Đấy là chưa nói tới việc làm hàng giả, sao chép trái phép, làm cho thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ thiệt hại cả trăm tỷ $ một năm. Đó chính là chiến tranh kinh tế.
Tuy nhiên từ chiến tranh ý thức hệ, kinh tế tới chiến tranh quân sự, ở mức độ đại chiến, thì quãng đường còn quá xa, vì chỉ cần 2 lý do chính sau đây:1) Cán cân quân sự giữa Hoa Kỳ và trung cộng còn quá chênh lệch, nhất là về kỹ thuật chiến tranh, về không quân và hải quân; 2) Hoa kỳ muốn khuất phục Trung cộng bằng chiến tranh ý thức hệ và kinh tế, chứ không bằng quân sự, theo kiểu: ” Thứ nhất là công tâm, thứ nhì đến công lương, thứ ba mới tới công thành “( 1)
Thực vậy cán quân quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung cộng còn quá chênh lệch. Không cần nhìn đâu xa, chúng ta chỉ cần nhìn vào ngân sách quốc phòng thì chúng ta rõ: Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ năm 2010 là 722,1 tỷ $, gấp hơn 5 lần ngân sách quốc phòng của Trung cộng là 134,5 tỷ, đứng hàng thứ nhì; sau đó là Nga với 80 tỷ; rồi tới Nhật bản với 60,6 tỷ; tới Anh ( 56,5 tỷ ;, Pháp (42,6 tỷ) và Đức (41,2 tỷ)-( Theo Le Monde – Bilan stratégique 2011).
Thực ra, trình độ quân sự, khoa học kỹ thuật của Trung cộng hiện nay còn chưa có thể sánh với Liên sô thời sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ở đây tôi không thể đi vào chi tiết ; nhưng chúng ta thấy hiện nay Trung cộng còn phải mua hàng không mẫu hạm, máy bay, tầu ngầm và nhiều võ khí khác từ Nga. Đây là một bằng cớ rõ ràng.
Không những Trung cộng về mặt quân sự nói chung, đặc biệt là hải quân, không quân và không gian còn thua xa Hoa kỳ. Đây tôi chỉ cho một con số nhỏ về không gian : Hiện nay có 800 vệ tinh không gian để quan sát, để lấy tin tức về đủ mọi mặt, như khí tượng, quan sát trái đất v.v.., tất nhiên trong đó có quân sự, riêng Hoa Kỳ đã chiếm 400 cái.
Nói như ông Reagan, thời còn cộng sản Liên Sô : « Sức mạnh quân sự Liên sô là chỉ để đàn áp, dọa dân, dọa những tay em và những nước láng giềng. » Ngày hôm nay sức mạnh quân sự của Trung cộng cũng chỉ là vậy.
Hơn thế nữa, nếu có chiến tranh giữa Trung cộng và Hoa Kỳ hay một quốc gia nào trong vùng, làm khuấy động biển Đông Nam Á, thì quốc gia bị thiệt hại nhiều nhất về kinh tế, chính là Trung cộng :
Hiện nay ngoại thương chiếm 1/3 tổng sản lượng quốc gia Trung cộng, gần 2 000 tỷ $, trong đó gần như chỉ có ngoại thương với Hoa Kỳ là thặng dư cao với gần 200 tỷ, và thặng dư với Việt Nam khoảng 13 tỷ, vì Việt Nam nhập cảng của Trung cộng khoảng 19 tỷ, xuất cảng khoảng 6 tỷ.
Hơn thế nữa, hiện nay 80% nhiên liệu tiêu dùng bởi Trung Cộng là do con đường đi từ Trung Đông qua eo biển Malacca. Nếu có chiến tranh, biển Đông Nam Á bị khuấy động, con đường vận chuyển này bị tắc nghẽn, thì Trung cộng không còn con đường nhiên liệu nào để thay thế. Một khi nhiên liệu không có, các hãng xưởng cùng hoạt động kinh tế bị ngừng trệ, thì hậu quả thật to lớn và khó lường.
Chính vì vậy mà có giả thuyết cho rằng không có chiến tranh quân sự to lớn giữa Trung Cộng và Hoa kỳ, vì chính Trung cộng không muốn, khi tiên đoán những hậu quả của nó.
Ngay cả Hoa kỳ cũng vậy, theo thiển ý của tôi, vì nếu chúng ta xét chiến lược ngoại giao của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh, đánh xập đế quốc cộng sản Liên sô, thì Hoa Kỳ đã áp dụng chiến lược của Tôn Tử, cũng một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Tàu :
« Cho nên người giỏi dùng binh, đuổi quân người mà không phải chiến, hạ thành người mà không phải đánh, hủy nước người mà không phải lâu. »
Trước đó ông có nói :
« Phàm cách dùng binh, lành nước là hạng trên, vỡ nước là hạng kế ; lành quân là hạng trên, vỡ quân là hạng kém… Không đánh mà khuất phục được quân người, ấy là người giỏi trong những người giỏi. » ( Tôn Ngô Binh pháp – Thiên Mưu công – do Ngô văn Triện dịch).
Quả chiến thắng của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh là một chiến thắng to lớn. Và theo tôi nghĩ Hoa Kỳ đang sao y bản chính với Trung cộng, theo chiến lược : « Thứ nhất là công tâm, sau đến công lương, thứ ba mới tới công thành ».
Công tâm đây là dùng chiến tranh tâm lý, ý thức hệ, sau đó là dùng chiến tranh kinh tế (công lương), và đối đế mới dùng đến chiến tranh quân sự tức công thành.
Bởi lẽ đó tiên đoán có chiến tranh quân sự to lớn giữa Hoa Kỳ và Trung cộng là không đúng, vì chính Hoa Kỳ cũng chưa muốn dùng đến quân sự.
Thực ra, vấn đề tiên đoán tương lai là một việc làm vô cùng khó khăn và cần có một sự thận trọng tối đa. Xưa kia, Hégel, một triết gia Đức,vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, tiên đoán tương lai, nói đến sự Tổng hợp hòa bình của lịch sử, và nhìn sự tổng hợp này qua hình ảnh của Napoléon đệ Nhất. Nhưng sau đó người ta thấy chính Napoléon đã gây bao chiến tranh, bao đau thương cho nhiều quốc gia dân tộc Âu châu, cuối cùng ông bị hạ bệ. Đồ đệ của Hégel là Karl Marx, tiên đoán sự kết thúc của lịch sử nhân loại là chế độ cộng sản.
Chúng ta thấy gì sau đó ?
Từ ngày Lénine cướp chính quyền năm 1917 cho tới khi Liên sô sụp đổ năm 1991, lịch sử nhân loại đã có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu; nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản, với 100 triệu người chết. ( Theo Stéphane Courtois và Margolin – Le Livre noire du Communisme). Và vẫn còn tiếp diễn với chế độ cộng sản Trung quốc, Việt Nam, Bắc Hàn va Cu ba.
Nói rằng : « Nhất định có chiến tranh quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng « là không đúng. Nhưng ngược lại, nói : « Nhất định không có chiến tranh quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung cộng » cũng không đúng luôn.
Là một quốc khách, một nhà làm chiến lược quân sự và ngoại giao là phải tiên đoán tất cả những khả thế có thể xẩy ra, để đối phó. Nếu có chiến tranh thì phải làm gì ? Nếu không có chiến tranh thì phải làm gì ? Cũng như một người tướng giỏi cầm quân ra trận là phải tiên đoán tất cả tình huống có thể xẩy ra. Nếu chiến thắng thì như thế nào. Nếu chiến bại thì như thế nào. Rút quân như thế nào ?
Là người Việt nam, bất cứ trong tình huống nào, trước hết chúng ta phải tranh thủ bằng mọi cách để tiến tới thể chế Dân chủ và Tự do. Vì chỉ có Dân chủ và Tự do mới có thể quy tụ nhân tâm về một mối, lãnh đạo đủ quyền uy, quốc gia đủ sức mạnh để tranh thủ lại chủ quyền, đoạt lại lãnh thổ, lãnh hải mà bọn cộng sản Việt nam đã dâng hiến cho Bắc phương.
Paris ngày 29/06/2011
Chu chi Nam
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













