
Đó là nhận định của tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu – thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng An Bình khi trao đổi với phóng viên NDHMoney bên lề Diễn đàn CEO “Quản trị khủng hoảng’ vừa diễn ra tại Hà Nội.
Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết, tỷ lệ nợ xấu hiện nay của toàn hệ thống ngân hàng đã giảm xuống còn 6% tổng dư nợ, ông đánh giá thế nào về con số trên?
Trước hết, nhìn vào con số này, tôi thấy rất mừng, thế nhưng liệu rằng chúng ta có thể mừng được bao lâu?
Đối với những khoản nợ trước kia vốn là nợ xấu được cơ cấu lại và trở thành nợ tốt hoặc nợ bình thường, nếu người đi vay thực sự có khả năng phục hồi và trả lại được cho ngân hàng thì tôi tin rằng tỷ lệ nợ xấu của nước ta sẽ tiếp tục giảm xuống trong thời gian tới.
Tuy nhiên, trong trường hợp nợ xấu đã được cơ cấu lại mà các doanh nghiệp không phục hồi được sức khỏe và lại tiếp tục khất nợ thì khoản nợ đáng lý đang ở trong nợ bình thường sẽ bật lại về mức nợ xấu.
Ngân hàng Nhà nước mới đây vừa ban hành Thông tư về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, trong đó có những điều khoản rất chặt chẽ quy định ngân hàng phân loại nợ và đặc biệt là có điều khoản yêu cầu những khoản nợ nào không phục hồi được thì bắt buộc trở lại tình trạng nợ xấu. Do đó, có lẽ chúng ta phải chờ xem các cơ quan chức năng cũng như các ngân hàng làm việc với các doanh nghiệp như thế nào để bảo đảm tình trạng sức khỏe của họ được cải thiện.
Nếu trong năm 2013 này nợ xấu chưa được giải quyết triệt để thì hệ lụy của nó sẽ như thế nào, thưa ông?
Nếu nợ xấu chưa được giải quyết, có thể một số khoản nợ xấu trước kia được cơ cấu lại sẽ trở lại thành nợ xấu. Như chúng ta đã biết, khoảng tháng 7 năm ngoái, Ngân hàng Nhà nước cho biết con số nợ xấu khoảng chừng 10%. Năm nay nếu tình trạng các doanh nghiệp tiếp tục khó khăn thì tôi nghĩ con số này có thể lên trên 10%.
Nếu nợ xấu tiếp tục tăng thì có khả năng những khoản nợ đó sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng và ăn vào vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, trong 2 tháng đầu năm, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng cổ phần đã suy giảm. Đây là một điều mà chúng ta cần phải rất quan tâm. Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng giảm là do đâu? Theo ý kiến của cá nhân tôi, có khả năng các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro rất nhiều trong 2 tháng vừa qua và chính điều này làm tăng chi phí, không những ăn vào lợi nhuận ngân hàng gây ra lỗ mà còn ăn vào cả vốn chủ sở hữu ngân hàng.
Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải tiếp tục quan sát để xem từ đây đến cuối năm, tình trạng nợ xấu sẽ diễn biến như thế nào. Đây là một vấn đề rất quan trọng trong nền kinh tế. Vấn đề nợ xấu có thể là một nguyên nhân gây ra khủng hoảng nếu chúng ta không kịp thời và nghiêm chỉnh trong vấn đề xử lý nợ xấu.
Theo quan điểm của riêng ông, Việt Nam có đang trong tình trạng khủng hoảng hay không và ứng phó của doanh nghiệp trong năm 2013 này sẽ phải diễn biến như thế nào?
Để trả lời câu hỏi Việt Nam có phải đang trong khủng hoảng hay không, chúng ta phải định ra những tiêu chí, định nghĩa thế nào là khủng hoảng. Theo những thông số, những chỉ tiêu mà chúng ta nhận được trong thời gian gần đây thì rõ ràng trong năm vừa qua chúng ta đạt được những thành tựu đáng kể. Lạm phát giảm tốc từ hơn 18% trong năm 2011 xuống 6,81% trong năm 2012, tỷ giá đồng đô la ổn định, lần đầu tiên xuất siêu trong gần 20 năm, tăng trưởng 5,03%. Đó là những dấu hiệu tốt.
Tuy nhiên, mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng số lượng doanh nghiệp phá sản trong năm vừa qua rất lớn, trên 54 nghìn doanh nghiệp và 2 tháng đầu năm 2013 tiếp tục có thêm hơn 8 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động. Có nhiều ngân hàng có sức khỏe tốt nhưng đâu đó có những ngân hàng yếu kém và hiện tại vẫn đang nằm trong danh sách xử lý của Nhà nước.
Theo tôi, để biết liệu Việt Nam có đang ở trong khủng hoảng hay không thì chúng ta cần có những chỉ số, định nghĩa rõ ràng và một trong những vấn đề quan trọng là vấn đề nợ xấu. Chúng ta biết rằng rất nhiều các chuyên gia, tổ chức nước ngoài đặt câu hỏi con số 6% nợ xấu đó chính xác đến độ nào. Đó cũng là câu hỏi đặt ra cho các cơ quan chức năng. Và khi các cơ quan chức năng định nghĩa rõ ràng về các thông tin, chỉ số và định nghĩa thế nào là khủng hoảng thì chúng ta có thể trả lời được chúng ta có đang ở trong khủng hoảng hay không.
Vậy theo ông, ngành ngân hàng có phải chịu trách nhiệm cho tình hình kinh tế hiện nay của đất nước?
Các ngân hàng chịu rất nhiều trách nhiệm trong tất cả khó khăn trong nền kinh tế. Dù sao đi nữa, ngành ngân hàng cũng đóng vai trò là một định chế tài chính mà chức năng quan trọng nhất của nó là lấy tiền gửi nhàn rỗi của dân chúng và mang đến những nơi đang cần vốn. Do vậy, nếu ngân hàng không làm tròn chức năng đó thì trách nhiệm đầu tiên phải thuộc về ngân hàng.
Hiện tại, chúng ta nhìn thấy trong nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được với tín dụng của ngân hàng và câu hỏi đặt ra là liệu ngân hàng có phải là người chịu trách nhiệm đầu tiên khi mà không cung cấp được tín dụng ra ngoài hay không? Câu trả lời thực sự rất khó.
Có lẽ không thể nào nói trách nhiệm đó hoàn toàn thuộc về ngân hàng trong khi rất nhiều các doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận nguồn vốn do sức khỏe tài chính của họ yếu kém, do không có phương án sử dụng đồng vốn hay không có báo cáo tài chính minh bạch hoặc không có tài sản thế chấp. Bản thân các doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng là do họ không đáp ứng được các đòi hỏi và yêu cầu của ngân hàng. Trong trường hợp đó, ngân hàng không phải là người phải chịu trách nhiệm cho việc không đẩy được vốn ra cho các doanh nghiệp. Đó là trách nhiệm của doanh nghiệp. Tôi đồng ý với quan điểm ngân hàng có trách nhiệm trong vấn đề khó khăn trong nền kinh tế, đặc biệt là phương diện tài chính nhưng ngành ngân hàng không phải là đối tượng duy nhất có trách nhiệm với tình trạng khó khăn hiện nay.
Xin chân thành cám ơn ông!
Theo Trần Thúy – NDHMoney
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét