Phạm Anh Tuấn (TTHN)
“Nước Mỹ không phát minh ra nhân quyền. Trên thực tế, đó là ngược lại. Nhân quyền phát minh ra nước Mỹ.“
Chúng ta ai cũng hiểu đại khái nhân quyền là những quyền phổ quát mà mỗi cá nhân trong một tập thể hay một quốc gia cần phải có để có thể có một cuộc sống an toàn hơn, tốt đẹp hơn. Bài viết này đơn thuần ghi lại các nguyên lý của nhân quyền, để rộng đường tham khảo.
Định nghĩa
Ông John Locke (1632-1704) trong “The Second Treatise On Civil Government” nhận định rằng
Every man has a property in his own person: this no body has any right to but himself. The labour of his body, and the work of his hands, we may say, are properly his.
Tạm dịch là
Mỗi người (đàn ông) có một tài sản riêng của mình: không ai có quyền lên người đó ngoại trừ chính bản thân người đó. Thành quả lao động của người đó, ta có thể nói, là của riêng người đó.
Bà Ayn Rand (1905-1982) nói
A ‘right’ is a moral principle defining and sanctioning a man’s freedom of action in a social context.
Tạm dịch là
‘Quyền’ là một nguyên tắc đạo đức xác định và xử phạt tự do hành động của một người (đàn ông) trong một bối cảnh xã hội.
Như vậy nhân quyền là của riêng của một người và người đó có quyền tự do hành động và hành động đó sẽ được vinh danh hoặc xử phạt trong bối cảnh xã hội. Xin lưu ý là “trong bối cảnh xã hội” chứ không phải “trong bối cảnh chính trị”, vì bối cảnh xã hội thường gắn liền với văn hóa, phong tục và bối cảnh chính trị gắn liền với một hệ thống chính trị mà trong đó luật pháp có thể không minh bạch hoặc thậm chí sai quấy.
Nhân Quyền là tuyệt đối
Nhân quyền được minh định rõ ràng là các điều kiện tất yếu cho một người hưởng lợi chứ không phải bị hành hạ trong một xã hội. Nhân quyền thiết lập một hệ thống bảo vệ con người từ mọi đàn áp hoặc thanh lọc, thể theo tính hợp lý của con người. Vì tính hợp lý của con người, nhân quyền không phải là tuỳ tiện hoặc chuyển nhượng. Nhân quyền là các điều kiện tất yếu cho cuộc sống trong một xã hội. Nhân quyền là tuyệt đối.
Cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter trong Farewell Address, Jan. 14, 1981 phát biểu
America did not invent human rights. In a very real sense, it is the other way round. Human rights invented America.
Tạm dịch là
Nước Mỹ không phát minh ra nhân quyền. Trên thực tế, đó là ngược lại. Nhân quyền phát minh ra nước Mỹ.
Quả thật là như vậy. Ông Thomas Paine qua cuốn sách “Lương Tri” đã đánh thức nước Mỹ đứng dậy dành độc lập từ nước Anh, và quan trọng hơn hết là cỗ vũ cho tự do và bình đẳng. Mặc dầu ông Paine không viết Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, song ông đã cộng tác chặt chẽ với Thomas Jefferson khi bản tuyên ngôn được soạn thảo. Ngoại trừ điều khoản chống nô lệ mà ông Paine ủng hộ, bị bỏ qua, mọi nguyên tắc của ông Paine đều được ghi vào bản tuyên ngôn.
Cả hơn 100 năm sau, bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mới được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua (ngày 10 tháng 12 năm 1948) mà qua đó các quyền căn bản của con người được cỗ vũ. Các quyền đó được triển khai từ sáu quyền căn bản: quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do ngôn luận và quyền tự bảo vệ.
Bản Hiến pháp 1992 của Việt Nam đã chà đạp trắng trợn lên nhân quyền và lên bản Tuyên ngôn độc lập 1945 của Hồ Chí Minh, mà câu đầu tiên nói “Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ta hãy xem một vài điều trong Bản Hiến pháp 1992:
- Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.
- Điều 51: Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.
Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định. - Điều 57: Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Điều 58: Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân. - Điều 60: Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.
- Điều 68: Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.
- Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
Như vậy các quyền của con người ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, và luôn luôn bị cụm từ “theo quy định của pháp luật” khẳng định 2 điều (1) quyền không được tôn trọng nếu chưa có luật cụ thể (thí dụ, quyền biểu tình không được cho phép hay tôn trọng vì chưa có luật biểu tình) và (2) luật, nếu có, có quyền hạn chế và ngay cả cấm đóan quyền.
Cụm từ thứ hai “Nhà nước bảo hộ” trong một số điều có thể được hiểu theo nhiều cách mà cách thông thường nhất là nhà nước không tôn trọng và chắc chắn là nhà nước không bảo vệ những quyền đó. Đây hoàn toàn đi ngược lại chức năng của một nhà nước.
Quyền sống
Quyền sống là quyền cơ bản, trong đó tất cả các quyền khác là hệ quả. Quyền sống minh định là bạn sở hữu chủ của cơ thể bạn. Nó là tài sản riêng của bạn để làm theo như ý của bạn. Không ai có thể buộc bạn phải làm bất cứ điều gì, không ai có thể làm tổn thương bạn bằng bất kỳ cách nào, và trên tất cả, không ai có thể cướp tính mạng của bạn (mà không có sự đồng ý.)
Ngược lại quyền sống là cuộc sống như một nô lệ, nơi mà một người nào đó hoặc một tổ chức làm chủ mạng sống của bạn – họ có thể ra lệnh bạn làm gì, khi nào bạn làm điều đó, và cướp cuộc sống của bạn theo ý họ.
Cần lưu ý rằng nhân quyền bảo đảm tự do hành động. Nhân quyền không cung cấp cho bất cứ điều gì ngoại trừ tự do hành động. Không có quyền thực phẩm, ví dụ, chỉ có quyền làm việc và giữ số tiền mà bạn có thể mua thức ăn.
Quyền tự do
Quyền tự do là một phần của quyền sống, đặc biệt đề cập đến quyền tự do hành động của bạn. Bạn có thể làm những gì bạn muốn, khi bạn muốn, miễn là bạn không chà đạp lên quyền lợi của bất cứ ai khác. Đây là một điều cần thiết cho cuộc sống của con người bởi vì phương tiện để con người sống sót là lẽ phải. Sự sống còn bởi lẽ phải đòi hỏi là bạn có thể hành động theo lẽ phải của bạn nếu không thì lẽ phải của bạn là sai trái. Bạn chỉ có thể hành động theo lẽ phải của bạn nếu bạn không bị người khác cưỡng chế.
Nếu xã hội đã cho phép một số hành động và cấm đoán các hành động khác, có nghĩa là xã hội đó cho phép một số lẽ phải và cấm đoán các lẽ phải khác. Điều đó sẽ phá hủy các lẽ phải cá nhân và làm lẽ phải xã hội bị chà đạp.
Khi một xã hội ngăn cản công dân của mình sử dụng vũ lực, nó không phá vỡ lẽ phải, bởi vì không bao giờ có một lý do chính đáng gì cho việc sử dụng vũ lực.
Quyền tư hữu hay sở hữu
Quyền tư hữu là một phần mở rộng quyền sống. Để hỗ trợ cho cuộc sống của mình thông qua lẽ phải và sống sót, bạn phải có khả năng sở hữu và sử dụng các sản phẩm lao động của mình. Nếu các công cụ của sự sống còn của bạn có thể bị ngang nhiên tịch thu, thì cuộc sống của bạn chắc chắn sẽ bị phá hủy.
Quyền mưu cầu hạnh phúc
Quyền mưu cầu hạnh phúc là tự do hành động. Để sống, con người phải đạt được thành quả và giá trị. Để đạt được thành quả và giá trị, con người phải được tự do để suy nghĩ và hành động. Quyền mưu cầu hạnh phúc có nghĩa là một người có tự do để làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là nó không xung đột với các quyền của người khác. Kể từ khi một người phải sử dụng trí óc của mình để sống, người đó phải có khả năng để lựa chọn các thành quả và giá trị của mình và tiến hành. Ngay cả hành vi tự phá hủy bản thân phải được cho phép, nếu không một người không thể sống bằng trí của mình. Cuối cùng, con người phải được tự do để theo đuổi mục tiêu riêng của mình và hạnh phúc.
Quyền tự do ngôn luận
Quyền tự do ngôn luận rằng những phát biểu của một cá nhân được công nhận, nếu không có nguy cơ vũ lực và không đưa đến bất kỳ trả đũa bằng vũ lực nào. Nhiều chế độ độc tài và toàn trị cấm một số loại ngôn luận được xem là nguy hiểm hoặc có tính chất kích động hoặc ngược lại ý muốn của người dân, nhưng sự kiểm duyệt này chỉ là một sự trốn tránh thực tế – hy vọng rằng nếu một vấn đề bị ém nhẹm, nó sẽ biến mất. Tự do ngôn luận là cần thiết cho tự do bởi vì không có tự do ngôn luận, bạn không thể thuyết phục người khác điều gì đúng và điều gì sai. Nếu không có sự tự do để thuyết phục người khác, chỉ có vũ lực có thể làm cho mọi người hành động theo một định hướng ảo.
Quyền tự do ngôn luận rất cần để thường xuyên kiểm tra chính phủ, bởi vì nó cho phép các sự vi phạm được nêu ra, xác định và sửa chửa chứ không phải là dấu diếm và che đậy cho nhau.
Quyền tự vệ
Quyền tự vệ là một hệ quả tất yếu cho quyền sống. Bạn phải có khả năng để bảo vệ sở hữu của bạn khi nó bị đe dọa. Nếu bạn bị tấn công, trạng thái bình thường biến mất và nhường vào đó là trạng thái khẩn cấp. Trong trường hợp khẩn cấp như vậy, bất cứ điều gì có thể xãy ra. Đó là sự lựa chọn mà kẻ tấn công của bạn phải sống với sự lựa chọn của mình. Chính phủ phải duy trì quyền mang vũ khí để tự vệ khi cần.
Kết luận
1. Nhân Quyền là tuyệt đối
2. Chính phủ của bất cứ quốc gia nào cũng không được quyền hạn chế, can thiệp hoặc tước đoạt nhân quyền.
1. Nhân Quyền là tuyệt đối
2. Chính phủ của bất cứ quốc gia nào cũng không được quyền hạn chế, can thiệp hoặc tước đoạt nhân quyền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét