Hành Khất - "Cuộc thi tìm hiểu 'Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển" được đăng trên trang mạng thanhnien.com.vn, bắt đẩu nhận bài từ ngày 15/09/2011 đến 30/09/2011 với giải thưởng từ 10 triệu--1 triệu cho bài viết của tập thể hay cá nhân. Kèm theo, bên dưới trang là những tài liệu được "chỉ đạo" để tham khảo trên mạng baodatviet.vn, baomoi.com, và vnca.cand.com và một trang "Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Mở Đường Hồ Chí Minh Trên Biển". Có lẽ, cũng vì hai chữ "huyền thoại" nầy, nên có những sự kiện dường như trái ngược, hay thêm bớt, theo chỉ đạo lèo lách một cách rất sáng tạo trong sáng tác qua cảm hứng được phóng bút của người viết.
A. Sơ lượt về "đường Hồ Chí Minh trên biển"
Theo "Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Mở Đường Hồ Chí Minh", trong khoảng giữa năm 1959 sau hiệp định Genève, với nhu cầu mở rộng chiến trường miền Nam để bành trướng chủ nghĩa cộng sản với sự trợ giúp của Liên Xô và Trung cộng trên vùng Đông Dương, đảng cộng sản Việt Nam thành lập"Đoàn công tác quân sự đặc biệt" - tiền thân của Đoàn 759 - với mục đích dùng đường biển để chuyên chở vũ khí được viện trợ bởi hai nước đàn anh vào miền Nam để hỗ trợ cho hai lực lượng : Bình Xuyên, các đảng phái quốc gia (Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng) và các giáo phái (Cao Đài, Hoà Hảo), và những người kháng chiến cũ là Việt Minh đóng ở miền Nam.
Theo ước tính của Mỹ, đa số cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại lên đến 100.000 người (wikipedia, "Chiến Tranh Việt Nam", bảng tiếng Việt). Và từ đó nối tiếp những chuyến tàu gọi là "tàu không số" qua "đường Hồ Chí Minh trên biển" song song với "con đường mòn Hồ Chí Minh" bắt đầu khoảng đầu năm 1960.
Bãi tiếp nhận đầu tiên là bến Vàm Lũng (Cà Mau), sau đó hàng loạt bến ven biển được thành lập trên khắp 4 vùng chiến thuật của miền Nam: bến Rạch Kiến Vàng (Cà Mau), bến Lộc An (Bà Rịa- Vũng Tàu), bến Hòn Hèo (Khánh Hoà), bến Vũng Rô (Phú Yên), bến Lộ Diêu (Bình Định), bến Đạm Thuỷ, Ba Làng An (Quảng Ngãi), bến Bình Đào (Quảng Nam), và ở các tỉnh Minh Hải, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre. Sau đợt tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968, hoạt động của những con tàu số không bị thu lại trong vùng Sông Gianh - Quảng Bình và hàng tấn vũ khí, hàng hoá được chuyển tiếp bằng đường bộ. Tính đến trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972, có khoảng hơn 33.000 tấn hàng được vận chuyển (khoảng trọng lượng của 825 xe tăng T54 hay 1.0000 xe hàng loại kéo).
Trong những "con tàu không số" tiêu biểu thường được nói đến là : 165, 56, 54, và 235, được Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định sử dụng để vận chuyển vũ khí tiếp sức cho mặt trận nằm vùng ở miền Nam để phân tán sự phản công trên nhiều mặt chiến trường truy nã của quân đội Việt Nam Cộng Hoà , sau thất bại trong trận đại chiến của cuộc tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân (1968), nhằm bảo tồn lực lượng bộ đội chính uy còn lại đang rút lui về vùng Hạ Lào. Con tàu 235 được xem như "bản anh hùng ca bất tử", do Trung úy Nguyễn Phan Vinh điều khiển, cùng 19 cán bộ xuôi Nam trên vùng biển quốc tế và bãi chuyển hàng theo ước định là Hòn Hèo (Khánh Hoà), cách Nha Trang khoảng hơn mười hải lý. Đó là vùng kiểm soát của lực lượng tuần giang của Hải quân Hoa Kỳ, Nước Nâu (The Brown Water Navy) trong giai đoạn 1965--1970, với nhiệm vụ bảo vệ vùng ven biển từ cửa Việt (Quảng Trị, nơi gần vĩ tuyến 17) đến Nam Căn (tận cùng đất miền Nam) vòng qua đào Hà Tiên
B. Những sự kiện dị biệt qua 3 tài liệu tiêu biểu
Tuy nhiên, có những sự kiện khác biệt về câu chuyện con tàu 235, được xét từ 3 tài liệu tiêu biểu:
1. (Tài liệu được chỉ đạo) trên vnca.cand.com.vn, "Nguyễn Phan Vinh và tàu 235 - Bàn hùng ca bất tử", ra ngày 26/10/2006, của Bùi Thị Hương (Bào tàng Quân chủng Hải quân) là loạt bài viết "Chuyện người trong cuộc - Chân dung các thuyền trưởng tàu không số. Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" ra ngày 10/09/2011, của Trịnh Dũng--Thu Hương, trên mạng qdnd.vn.
2. Qua bài viết "Chuyện người trong cuộc - Những trang đời huyền thoại. Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh", ra ngày 9/09/2011, của Phan Tiến Dũng, cũng trên qdnd.vn.
3. Qua lời bài viết kể lại của cựu chiến binh đoàn tàu không số "Tàu 235 và trận chiến sinh tử", ra ngày 8/09/2011, của Lê Duy Mai, trên qdnd.vn.
Sau đây là những sự kiện dựa trên "Kỳ 4 : Nguyễn Phan vinh (NPV), bản hùng ca cất tử" được chọn lọc để có thể so sánh sự dị biệt, đôi khi cả mâu thuẩn, và sai sự thật trong cả 2 bài viết còn lại :
Sự kiện (1) : thời điểm chuyển hướng
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Tối 29/2, tàu đến ngang vùng biển Nha Trang và chuyển hướng vào bờ. Phát hiện ra tàu ta, địch lập tức huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, HQ12, HQ 617 và 4 tàu khác của duyên đoàn 25 đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống...
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
"… ngày 29-2-1968, tàu 235 đến ngang vùng biển Nha Trang, thì phát hiện máy bay trinh sát địch lượn vòng quanh tàu rồi mất hút. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh nhận định tàu ta đã bị lộ nên cho anh em ngụy trang cẩn thận, chờ đêm tối chuyển hướng vào bờ, cả tàu chuẩn bị thả hàng sẵn sàng chiến đấu "
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"Trong suốt hành trình ngoài hải phận quốc tế, tàu địch và máy bay địch luôn thay phiên bám đuổi. Biết địch bám chặt, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho tàu chuyển hướng đánh lừa địch, khi thấy tàu và máy bay địch không “bám đuôi” nữa, chúng tôi mới chuyển hướng hành trình vào bến.
Trong "NPV, bản hùng ca bất tử" cho rằng khi tàu đến vùng biển Nha Trang, và chuyển hướng vào bờ, sau đó tàu địch mới phát hiện ra.
Nhưng trong "Nhớ mãi tên anh" lại viết, khi tàu đến vùng biển Nha Trang, thì phát hiện máy bay trinh sát địch, nên chờ đêm tối mới chuyển hướng vào bờ. Tương tự như trong "Tàu 235 và trận chiến sinh tử", Lê Duy Mai kể rằng khi máy bay và tàu địch không theo bám nữa, họ mới chuyển hướng. Điều nầy xét ra hợp lý hơn, qua sự kiểm soát vùng biển quốc tế trong phạm vi mở rộng ngang qua của một nước, lực lượng hải quân của họ có quyền theo dõi khi phát hiện những con tàu đáng nghi ngại cho sự an ninh vùng bờ biển thuộc chủ quyền. Một khi bất kỳ con tàu lạ nào xâm nhập lãnh hải mà không thông báo xin phép trước, lực lượng hải quân sẽ theo đuổi chận xét.
Quân đội Hoa Kỳ đã tham chiến trong khoảng thời gian 1965. Riêng lực lượng hải quân Hoa Kỳ, kết hợp với hải quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) đã bao phủ một hệ thống kiểm soát chặc chẽ với những đoàn tàu đủ loại được trang bị hỏa lực đủ mạnh, máy bay trinh thám và những mạng lưới radars, thì không thể không phát hiện được con tàu đi ngang qua trong hải phận quốc tế. Đó là chưa nói đến, những hình ảnh, bản vẽ trong danh sách tư liệu về những "con tàu không số" (dù số tàu có thể thay đổi, nhưng hình dáng được nhận diện khó đổi thay dù được ngụy trang bằng những tấm lưới cá, chày câu) qua chiến dịch Thời Thị Trường (Market Time)_ là một trong 3 chiến dịch nhằm đối phó với những cuộc chuyên chở vũ khí, xâm phậm vào miền Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh, đường biển, và đường bộ từ biên giới Lào.
Sự kiện (2) : thời điểm bị địch phát hiện, vượt thoát và thả hàng
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Tối 29/2, tàu đến ngang vùng biển Nha Trang và chuyển hướng vào bờ. Phát hiện ra tàu ta, địch lập tức huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, HQ12, HQ 617 và 4 tàu khác của duyên đoàn 25 đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống...
Biết đã bị lộ, Thuyền trưởng Phan Vinh khôn khéo điểu khiển tàu 235 luồn lách qua đội hình tàu địch và đến được bến Ninh Phước lúc 0 giờ 30 phút ngày 1/3. Anh quyết định thực hiện phương án hai, cho thả hàng xuống nước để quân dân ở bến mò vớt sau"
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
"Kim đồng hồ chỉ đúng 23 giờ. Màn đêm đen đặc, tàu 235 đè sóng lướt tới. Khi cách Hòn Hèo khoảng chừng 6 hải lý thì bất ngờ gặp 3 tàu chiến của địch là Ngọc Hồi, HQ12, HQ617 và 4 chiếc khác dàn hàng ngang, triển khai đội hình phục kích thành thế bao vây hòng bắt sống tàu ta. Trước tình hình đó, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đã mưu trí chỉ huy các thủy thủ thả khói mù, khôn khéo điều khiển tàu luồn lách qua đội hình tàu địch đến đúng vị trí bến quy định thuộc xã Ninh Phước, huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa)"
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"Ngày 1-3-1968 , tàu chúng tôi vào đúng bến Hòn Hèo, phát tín hiệu nhiều lần nhưng trên bờ không có tín hiệu đáp lại. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh quyết định neo tàu và thực hiện phương án thả hàng. Hàng vừa thả xong thì chúng tôi cũng phát hiện tàu địch đã bao vây tứ phía"
Theo "NPV, bản hùng ca bất tử", thời điểm bị địch phát hiện là lúc chuyển hướng thẳng vào bờ từ vùng hải phận quốc tế; sau đó tàu 235 "luồn lách qua đội hình địch" để đến bến hẹn Ninh Phước.
Nhưng theo "Nhớ mãi tên anh" , tàu 235 "bất ngờ" gặp những tàu chiến địch, và thêm chi tiết "thả khói mù", sau đó cũng do sự khôn khéo điều khiển tàu "luồn lách" qua đội hình tàu địch, đến bến hẹn Ninh Phước .
Và theo "Tàu 235 và trận chiến sinh tử", tàu 235 vào đúng bến Hòn Hèo, nhưng không nhận được tín hiệu đáp lại, nên tàu thả hàng xuống nước khi vừa xong thi phát hiện tàu địch bao vây.
Sự kiện khi bị tàu địch phát hiện trong 3 bài viết hoàn toàn khác nhau, dù trong hai bài có vài phần dường như sao chép nhau, nhưng trong bài thứ 2 được thêm vào chi tiết "thả khói mù" để vượt thoát tàu địch đang bao vây. Theo tài liệu wikipedia, con tàu sắt- được chế tạo bên trung cộng, không phải từ hãng xưởng Hải Phòng hay bất kỳ vùng nào ở miền Bắc (sẽ nói và dẫn chứng thêm sau) - chỉ có thể đạt tốc độ tối đa khoảng 12 hải lý/ giờ (trong khi tuần dương đỉnh của Hoa Kỳ và tàu tuần cao tốc có thể đạt từ 17-- 28 hải lý /giờ) thì làm sao có thể vượt thoát bằng cách "luồn lách" trước đội hình mạnh mẽ của hải quân địch. Cho dù có "thả khói mù", nhưng trên vùng biển mênh mông như vậy khói mù khó có thể nào bao phủ một khoảng rộng bao quanh để che chắn, và sẽ bị loãng rất nhanh theo sức gió, cộng thêm lực chuyển động của con tàu; ngoài ra, chưa nói đến hệ thống radar trên tàu địch không bao giờ có thể bị mù vì khói.
Sự kiện (3) : đối địch
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Các thủy thủ Thật, Phong liên tiếp dùng DKZ và 14 ly 5 bắn về phía tàu địch, một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần"
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"Chúng tôi dùng ĐKZ và súng máy 14,5mm bắn chìm và làm bị thương một số tàu địch"
Giữa một con tàu sắt vận chuyển hàng được ngụy trang thành tàu đánh cá và 8 tàu chiến tàu địch bao vây, thêm vào là máy bay trên không, quả là một cuộc chiến không cân sức như trong "Nhớ mãi tên anh" đã thừa nhận điều đó.
Theo wikipedia, "Action of 1 March 1968 " có đoạn :
"Surveillance was continued by Market Time vessels until she crossed the 12 mile limit 28 miles northeast of Nha Trang.[1] Ignoring warning to heave to for boarding, the trawler continued on towards the beach. A South Vietnamese Navy patrol boat opened fire on the trawler and it quickly changed course and returned fire. Assisted by a U.S. Air Force AC-47 gunship, swift boats PCF-42, PCF-43, PCF-46, PCF-47, PCF-48 and two SVN junks sortied to help the patrol craft chase the trawler to a cove where it ran aground in the Hon Heo Secret Zone[4]"
Tạm dịch : "Sự giám sát được tiếp tục bằng những con tàu trong chiến dịch Thời Thị Trường cho đến khi con tàu(235) vượt qua 12 dặm giới hạn (hướng)28 dặm về phía đông bắc của Nha Trang. Bỏ qua sự cảnh cáo dừng lại đề lên tàu (kiểm soát), con tàu đánh cá vẫn tiếp tục hướng tới bãi biển. Tàu tuần duyên hạm của Hải quân miền Nam Việt Nam khai hoả và tàu đánh cá nhanh chóng đổi hướng và bắn trả lại. Được hỗ trợ bởi máy bay tuần thám có trang bị vũ khí AC-47 của Không quân Hoa Kỳ, những(5) Duyên tốc đĩnh PCF-42, PCF-43, PCF-46, PCF-47, PCF-48 và hai chiếc ghe hải thyền gổ (có gắn súng) của miền Nam Việt Nam chưa một lần xung trận để giúp con tàu tuần tra đuổi theo các tàu đánh cá vào vịnh nhỏ để bị mắc cạn trong Khu Hòn Hèo bí mật"
Theo tài liệu "NPV, bản hùng ca bất tử", có 3 con tàu HQ.12, Ngọc Hồi, và HQ.617 của Hải quân VNCH tham chiến, và 4 con tàu khác dàn hàng ngang. Nhưng theo "Sử Liệu" của Hải quân trên mạng hqvch.net cho biết rằng HQ.12-Ngọc Hồi là một tuần dương hạm. Và theo wikipedia, được trích đoạn ở trên, không nói rõ tên con tàu tham dự, ngoại trừ những duyên tốc đĩnh và một máy bay trinh thám được vũ trang_ không phải là "máy bay lên thẳng" như được nói đến trong "Nhớ mãi tên anh". Vì vậy có thể đoán rằng, chỉ một HQ.12 hoặc HQ.617 có mặt lúc đó. Dù vậy, lực lượng tham chiến cũng không nhỏ đối với một con tàu sắt đánh cá; do đó khó có thể nghĩ rằng sự phản công của con tàu sắt tạo nên hiệu quả như trong "NPV, bản hùng ca bất tử" viết : " một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần" hay như trong "Tàu 235 và trận chiến sinh tử" thêm : " bắn chìm và làm bị thương một số tàu địch" (sẽ được trích dẩn để chứng minh trong phần kế tiếp).
Hành Khất (danlambao)
Huyền thoại "giả tạo" của Đường Hồ Chí Minh trên biển (2)
Hành Khất (danlambao) - Hai chữ "huyền thoại" đã tạo nên những sự kiện dường như trái ngược, hay thêm bớt, theo chỉ đạo lèo lách một cách rất sáng tạo trong sáng tác qua cảm hứng được phóng bút của người viết. Tất cả tạo nên "huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên Biển" như là một trong hàng ngàn "huyền thoại" khác được sản xuất trong suốt nhiều thập niên qua...
*
Sự kiện (1) : thời điểm chuyển hướng
Sự kiện (2) : thời điểm bị địch phát hiện, vượt thoát và thả hàng
Sự kiện (3) : đối địch
Sự kiện (4) : quyết định hủy tàu
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Anh có ý định phá vòng vây bởi ngoài khơi dễ cơ động, nếu cần thì áp sát tàu địch và cho nổ tàu tiêu diệt bọn chúng. Nhưng rất không may, lúc đó máy tàu hỏng nặng. Ý định phá vòng vây không thành.
" Anh chỉ huy cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ 20 phút, tàu cách bờ hơn 100 mét, anh tổ chức đưa người đã hy sinh và bị thương vào bờ, sau đó ra lệnh chuẩn bị điểm hỏa cho nổ tàu."
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
" Biết không thể thoát khỏi vòng vây của địch được nữa, Nguyễn Phan Vinh hội ý với anh em và ra quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch."
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"Thấy tàu Việt Cộng hành động quyết liệt, các tàu địch còn lại không dám lại gần. Đây là thời cơ để chúng tôi thực hiện phương án 3, hủy nổ tàu để bảo đảm bí mật về “đường mòn trên biển”."
Theo "NPV, bản hùng ca bất tử" vì lúc đó máy tàu hư nặng không thể phá vòng vây ra ngoài khơi, nên phải bắt buộc cho nổ tàu, sau khi tải người đã hy sinh và bị thương vào bờ trước.
Nhưng theo "Nhớ mãi tên anh" thì cho rằng vì cuộc chiến không cân sức, và biết rằng không thể thoát khỏi vòng vây - có thể không phải con tàu bị hư hại nặng - nên Thuyền trưởng NPV "phải hội ý" và cuối cùng quyết định hủy tàu.
Và theo "Tàu 235 và trận chiến sinh tử" vì các tàu địch còn lại không dám đến gần, nên tàu 235 lợi dụng thời cơ đó, thực hiện phương án 3 là hủy tàu, dù đã chống trả một cách quyết liệt.
Qua 3 đoạn trích trên cho cùng một sự kiện, nhưng sự việc diễn tiến hoàn toàn mâu thuẫn nhau qua các lý do cho thực hiện phương án hủy tàu. Vấn đề có thể đặt ra là "sự kiện hủy tàu có thực sự xảy ra không, hay chỉ là cách ngụy tạo để che giấu cho sự thất bại chiến dịch vận chuyển vũ khí làm hao tốn tài vật và đồng thời mượn cớ nhằm đánh bóng thêm những thành tích anh hùng của đảng ?"
Những con tàu dù đến được bến hẹn hay không nhưng một khi bị phát hiện là không còn cách vượt thoát ra khơi. Vì tốc độ của một con tàu để vận chuyển hàng hoá nặng như xe tải loại kéo thì tốc độ không thể nhanh hơn những con tàu duyên tốc đĩnh, hay tuần duyên hạm v.v, dù giả như lúc đó con tàu sắt hoàn toàn không có hàng hóa, thì cũng không thể nào vượt thoát vòng vây với hỏa lực mạnh gấp nhiều lần trên biển và trên không. Đó là những chuyến tàu dường như khó có thể trở lại ! Chỉ còn cách duy nhất là hủy tàu.
Theo wikipedia, "Action of 1 March 1968", có đoạn như sau :
"At 0230, 1 March, five 81-millimeter mortar rounds from PCF-47 were direct hits and the trawler exploded with a massive explosion due to the munitions aboard"
Tạm dịch : "Lúc 2 giờ 30 sáng, ngày 01 tháng 3, năm loạt đạn súng cối 81 mm từ PCF-47(duyên tốc đĩnh) đã rơi đúng mục tiêu và tàu đánh cá phát nổ với sự bùng phát to lớn do vũ khí trên tàu"
Sự kiện (5) : bối cảnh lúc hủy tàu
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Anh chỉ huy cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ 20 phút, tàu cách bờ hơn 100 mét, anh tổ chức đưa người đã hy sinh và bị thương vào bờ, sau đó ra lệnh chuẩn bị điểm hỏa cho nổ tàu."Anh Vinh, Thứ và tôi cài kíp nổ ở khoang máy, các vị trí khác do Khung, Thật, Mai đảm nhiệm. Kiểm tra xong lần cuối, chúng tôi nhảy xuống nước bơi vào bờ. Tôi được giao nhiệm vụ nếu tàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ"
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
"Thuyền trưởng Vinh cho tất cả anh em bơi vào bờ trước, còn anh và thợ máy Ngô Văn Thứ ở lại chuẩn bị các loại kíp nổ và trực tiếp điểm hỏa khối thuốc nổ hủy tàu rồi bình thản nhảy xuống nước bơi vào bờ...."
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"Ở lại tàu lúc đó, theo trí nhớ của tôi còn Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và các đồng chí: Hàng hải, điều khiển 2 máy trước, điều khiển hai máy sau, 2 đồng chí pháo thủ súng máy 14,5mm, đồng chí pháo thủ ĐKZ và tôi."
"… Người đánh bộc phá khoang máy trước là anh Vũ Long An. Người đánh bộc phá khoang mũi tàu là anh Hà Minh Thật. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đến từng vị trí kiểm tra và động viên từng người."
Trong bối cảnh trước khi hủy tàu, theo "NPV, bản anh hùng bất tử" viết rằng sau khi tải những người đã hy sinh và bị thương vào bờ, NPV và một người tên Thứ cùng tác giả tên Long An lo việc gài kíp nổ ở khoang máy, trong khi ba người khác lo những vị trí còn lại. Sau đó, cả 5 người cùng nhảy xuống nước bơi vào bờ.
Nhưng theo "Nhớ mãi tên anh", NPV cho tất cả bơi vào bờ trước, chỉ còn người thợ máy tên Thứ và chính Thuyền trưởng_ không phải là 5 người như đoạn trên đã nói ở lại để chuẩn bị các loại kíp nổ và trực tiếp điểm hỏa, rồi mới nhảy xuống nước.
Và tác giả Lê Duy Mai, cũng là thợ điện, kể lại trong "Tàu 235 và trận chiến sinh tử" thì cho rằng người đánh bộc phá khoang máy trước là Vũ Long An - không phải là NPV và người tên Thứ -, và người lo khoang mũi tàu là Hà Minh Thật. Thuyền trưởng NPV chỉ kiểm tra và động viên.
Nếu cho rằng những ngưởi kể lại trong 3 bài viết có thể nhớ lộn vài chi tiết vì quá lâu hay tình hình lúc đó quá căng thẳng, nhưng thật ra qua nhiều đoạn trong bài cho thấy rằng họ nhớ rất tỉ mỉ những sự kiện khác, ngay cả nhận thấy sự "bình tĩnh" của NPV nhảy xuống nước như trong "Nhớ mãi tên anh" đã kể. Những chi tiết khá đơn giản nầy nhưng trái ngược nhau, khiến người đọc càng thêm bối rối, nhất là khi muốn tìm hiểu thêm tài liệu để viết bài.
Trong lúc con tàu 235 bị bao phủ bởi những loạt pháo, và tràng đạn bắn xả liên tục của kẻ địch từ trên không và trên biển, nhưng họ "vẫn có thể bình tĩnh" tổ chức đưa "5 cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã hy sinh, 2 người bị thương nặng, 7 người bị thương nhẹ" vào bờ trước, như trong "NPV, bản anh hùng bất tử" viết; thì quả thật là một là việc rất anh hùng… "khó tưởng" như trong mấy phim ảnh dàn dựng cốt chuyện cho thêm phần gai go và hấp dẫn; nhất là trong khoảng thời gian rất ngắn ngủi, cấp bách, và nguy kịch lúc đó nhưng phải tải tất cả là 14 người xuống xuồng bơm hơi cao su. (cũng như những sự kiện trên, sẽ được chứng dẫn thêm sau về sự thật xảy ra như thế nào).
Sự kiện (6) : bối cảnh sau khi lên bờ
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Mười ngày phơi dưới nắng, không lương thực, không nước uống, chúng tôi kiệt sức. Ngày thứ 11, Khung đi tìm nước uống, rồi không trở về. Sau này mới hay Khung bị địch bắt. Ngày thứ 12, chúng tôi liên lạc được với du kích ở bến. Mọi người quay lại đón anh Nhi đang nằm trong rừng"
"Kỳ 4 : Nhớ mãi tên anh" :
"Cuộc chiến đấu trên bộ giữa thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng thợ máy Ngô Văn Thứ với bộ binh địch diễn ra vô cùng ác liệt. Lợi dụng địa hình, địa vật, các anh đã tiêu diệt nhiều tên địch. Cuối cùng, do vết thương ngày càng nặng, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thợ máy Ngô Văn Thứ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, rồi anh dũng hi sinh..."
"Tàu 235 và trận chiến sinh tử" :
"sau khoảng 7, 8 ngày lẩn tránh các cuộc truy lùng của địch, anh Mai Văn Khung đi tìm nước cho anh Nhi uống thì bị địch phát hiện. Chúng tôi nổ súng quyết chiến với quân địch. Anh Nhi hy sinh tại chỗ còn anh Khung sau đó bị thương. Gần đây tôi được biết, anh Khung bị địch bắt rồi đày đi Phú Quốc"
Theo "NPV, bản hùng ca bất tử", số còn lại sau khi rút lên bờ là 9 người -5 người đã hy sinh, 2 người bị thương nặng, và 7 người bị thương nhẹ, còn lại 6 người không thương tích lo việc gài kíp nổ. Như vậy, có tất cả là 11 người đã hy sinh trong tổng số ban đầu là 20 người - có thể là 5 người trước đó, thêm 2 người bị thương nặng, và 4 người bị thương nhẹ. Số còn lại là 6 người không thương tích và 3 người bị thương, phải chiến đấu quyết liệt với kẻ địch đang kéo đến trên bờ. Thuyền trưởng NPV và người tên Thứ đã phải chịu hy sinh để chận đứng nhiều cuộc tấn công. Chỉ còn lại 7 người phải lẩn trốn và chịu đựng 10 ngày phơi nắng, không lương thực, nước uống, ngay cả thuốc men, băng bó. Đến ngày thứ 11, người tên Khung đi tìm nước và rồi không về; sau nầy mới biết là bị địch bắt. Cuối cùng, 7 người cũng được trở về miền Bắc hơn 6 tháng vượt Trường Sơn, sau khi bắt liên lạc với du kích và tịnh dưỡng một thời gian.
Trong "Mãi nhớ tên anh" thì không… nói đến việc vượt Trường sơn trở lại miền Bắc, cũng như thời gian lẩn tránh, hay chuyện về người tên Khung.
Nhưng theo "Tàu 235 và trận chiến sinh tử" cho rằng số 7 người còn lại phải lẩn tránh trong 7,8 ngày - không phải là 10 ngày như được nói ở trên. Và cuộc chiến trên bờ chỉ xảy ra sau khi Khung đi tìm nước bị địch phát hiện. Sau đó Khung bị thương - có thể bị bỏ lại, nên tác giả không biết Khung đã hy sinh hay bị bắt - đến mãi sau nầy mới được tin : "Khung bị địch bắt rồi đày đi Phú Quốc" .
Sức con người luôn có hạn, dù có thể nhịn ăn nhưng không thể không uống nước trong 10 ngày liên tục như trong "NPV, bản hùng ca bất tử" đã kể. Và 3 người bị thương, không có thuốc men để băng bó, trong vùng bùn lầy mà vẫn có thể chịu đựng được; thì điều nầy lại phải đặt thêm nghi vấn. Vì với một vết thương bằng súng đạn như vậy, trong vòng 3 ngày đã hóa mủ và bắt đầu ung thúi. Ngoài ra không được ăn uống trong nhiều ngày - cơ thể dần mất khả năng chịu đựng, tự bảo vệ, và hàn gắn vết thương - thì khó bảo toàn phần cơ thể còn lại. Và giả như được may mắn sống sót, phần cơ thể đó chắc chắn phải bị cắt bỏ; nhưng trong tình hình bấy giờ, không có thuốc men thì dễ gì làm phẫu thuật dù với dụng cụ thô sơ.
Riêng về câu chuyện người tên Khung lại mâu thuẫn nhau, cũng như sự kiện xảy ra trận chiến trên bờ hoàn toàn khác biệt về giai đoạn thời gian : trước hay sau khi Khung bị phát hiện? Nhưng trong "NPV, bản hùng ca bất tử" mô tả lại trận chiến rất chi tiết như khẳng định rằng sự việc đó là thật và đã xảy ra trước khi Khung bị bắt.
Một trận chiến không kém phần náo động, với : "… máy bay đến bắn phá ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ tàu 235" và "Địch lập tức đổ quân lùng sục. Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ chốt ở đó, kiên cường chống trả, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch,…", thì khó có thể làm người ta dễ dàng quên đi vài chi tiết, bao gồm sự việc về người tên Khung.
Sự kiện (7) : bản tin không chứng cứ
"Kỳ 4 : Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử" :
"Về sự kiện này, tạp chí “Lướt sóng” của Hải quân quân đội Sài Gòn viết: “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng quân lực Việt Nam cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng (thực chất chỉ có 20 thủy thủ) gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập và tiếp tế cho mặt trận giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại một dấu vết”..."
Đây lại một là bản tin không chứng cứ hay chỉ nói qua loa về nguồn dẫn, nhưng nó cũng dễ khiến người đọc tin là thật vì đa số đọc giả không hiểu biết rõ ràng về những danh từ dùng trong quân đội như tiểu đoàn, chiến hạm, phi cơ, nếu không có những hình ảnh cụ thể, hay vài lời chú thích. Họ khó có thể hình dung 1 tiểu đoàn như thế nào, ngoại trừ cho họ một khái niệm về con số, hay một chiến hạm to lớn được trang bị ra sao, nếu chưa từng được nhìn thấy qua hình ảnh, hay khoảng tróng trong khoang của một con tàu vận chuyển hẹp rộng như thế nào, cùng với 14 tấn vũ khí, và khả năng hủy hoại của một chiếc phi cơ chiến đấu đến mức nào, so với máy bay tuần thám.
Để chú giải phần nào, theo wikipedia cho biết, một tiểu đoàn có khoảng 300 đến 500 người. Nhưng cũng có thể lên đến 800 người, tùy tình hình và hoàn cảnh của mỗi quốc gia qua cách phân chia trong quân đội của họ. Đơn giản hoá, người ta có thể dùng con số 400 cho một tiểu đoàn.
Theo tài liệu "Lực Lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa" trên http://hqvnch.net/default.asp?id=502&lstid=62, hải quân của VNCH có tất cả là 20 tuần duyên hạm trong khoảng 1963--1967, và 7 tuần dương hạm trong khoảng 1971--1972. Vì vậy, theo bản tin, có thể xem như chỉ có tuần duyên hạm tham gia, lúc đó. Và phải vận động gần như toàn bộ lực lượng hải quân để vây đánh… một tàu sắt vận chuyển hàng hóa với 20 thủy thủ (?). Và một chiếc quân vận đĩnh chỉ có thể chứa khoảng 100 người; như vậy cần đến 4 chiếc cho một tiểu đoàn khoảng 400 người. Nhưng theo bản tin viết, con tàu sắt đánh cá chuyên chở cả "một tiểu đoàn Việt Cộng" (?)
Theo tài liệu "Lực Lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa" trên http://hqvnch.net/default.asp?id=502&lstid=62, hải quân của VNCH có tất cả là 20 tuần duyên hạm trong khoảng 1963--1967, và 7 tuần dương hạm trong khoảng 1971--1972. Vì vậy, theo bản tin, có thể xem như chỉ có tuần duyên hạm tham gia, lúc đó. Và phải vận động gần như toàn bộ lực lượng hải quân để vây đánh… một tàu sắt vận chuyển hàng hóa với 20 thủy thủ (?). Và một chiếc quân vận đĩnh chỉ có thể chứa khoảng 100 người; như vậy cần đến 4 chiếc cho một tiểu đoàn khoảng 400 người. Nhưng theo bản tin viết, con tàu sắt đánh cá chuyên chở cả "một tiểu đoàn Việt Cộng" (?)
Với một con tàu vận chuyển đầy hàng như hình ảnh ở trên, khó có thể nào dồn thêm cả 400 người trong khoang. Và cứ giả như là vậy, lực lượng chiến đấu của 1 tiểu đoàn chỉ bám vào một con tàu sắt đơn sơ, chậm chạp như thế, chỉ là cách tự sát tập thể. Theo như bản tin, ngoài 12 chiến hạm, và hàng chục hải thuyền, còn có thêm phi cơ - không phải là loại thám thính - thì đó là một trận thư hùng kinh hoàng không kém.
Thật ra, với khả năng của 1 chiếc phi cơ, cũng đủ đánh chìm con tàu sắt cùng 1 tiểu đoàn của nó trong chớp nhoáng, vì tàu sắt vận hàng, dĩ nhiên không được trang bị hỏa lực như một tàu chiến và sự chính xác của lằn đạn từ người trên tàu cầm súng bắn lên phi cơ thì rất mong manh . Vã lại, không một vị chỉ huy nào nghĩ rằng họ sẽ vận dụng một lực lượng to lớn đến vậy để chỉ đối phó với một con tàu sắt vận hàng vì trong trách nhiệm và bổn phận của người thừa hành có cấp bậc, bao gồm cả việc chi tiêu về chiến phí để tiết kiệm quân nhu và phí tổn không cần thiết, và sự điều quân thích hợp để tránh sự hao hục lực lượng.
Nếu một bản tin như vậy đăng trên tạp chí "Lướt sóng" của quân đội VNCH, thì chỉ có trong mục truyện vui cười, vì không một quân nhân nào trong quân đội VNCH nói chung, và hải quân nói riêng, thiếu kiến thức để nhận thấy sự lố bịch trong ngụy tạo như vậy. Đó là chưa nói, trong binh chủng hải quân, hay những binh chủng khác, phóng viên quân đội được đào tạo bằng trường lớp chuyên nghiệp, sau khi đỗ đạt qua hai kỳ thi tú tài toàn phần với số điểm bình (hạng thứ, hạng bình, hạng ưu). Từ đó, người ta có hiểu được một khía cạnh nhỏ như thế nào về điều kiện để trở thành một sĩ quan hải quân, hay trong binh chủng khác.
Tóm lại, chỉ cần đọc sơ qua bản tin trên, một người lính VNCH không cấp bậc, cũng hiểu rằng đó là một bài viết thiếu hiểu biết cơ bản về quân đội và chiến trận. Vậy tác giả nào dám nghĩ đến chuyện đăng lên một tạp chí hải quân như vậy mà không cảm thấy sự mê muội lố bịch của mình phơi bày sao ? Họa chăng, với bản tin như thế có thể dẫn dụ sự tin tưởng của những người dân đen cần cù mưa nắng, ví thiếu thời gian, điều kiện tự tìm hiểu thêm, ngoài trừ chỉ được đọc những bài báo tuyên truyền lá cải như tình trạng ở Việt Nam hôm nay. Cái đau của dân tộc cũng chính là sự thiếu hiểu biết trong dân chúng, khi nhà cầm quyền cố tình tạo một nền giáo dục u mê, ngụy tạo ngay cả trong lịch sử xa xưa, để có được những người "trung thành tuyệt đối với đảng" như trong "Đề Cương" nói về nhiệm vụ thứ 3 trong tình hình mới hôm nay (2011). Cũng có nghĩa là: "người dân không được quyền đặt bất kỳ nghi vấn gì với đảng", dù chỉ bắt đầu men nhóm trong tư tưởng mà đó là một đặc ân về trí não, của Thượng Đế ban cho con người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét