Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Kinh tế VN bế tắc: Đi vay lãi

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

2011-09-28
Trong tình trạng dao động quá mạnh của thị trường trước từng nguồn tin, thậm chí nhiễu âm hay lời đồn đại, có một vấn đề vẫn tồn tại cho các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp loại nhỏ và vừa. Đó là vay tiền ở đâu để tài trợ vốn luân lưu?
AFP photo
Sơ đồ biểu thị kinh tế 5 nước trong khối ASEAN là Indonesia, Thailand, Malaysia, Philippines, Vietnam
Trong các nền kinh tế đang chuyển hướng như tại Việt Nam và Trung Quốc, lạm phát là mối lo thường trực của dân chúng và chính quyền, với ảnh hưởng trực tiếp lên lãi suất ngân hàng. Vào hoàn cảnh đó, việc vay tiền ngân hàng càng là trở ngại cho các doanh nghiệp nhỏ, của tư nhân. Diễn đàn Kinh tế đề cập tới vấn đề này với nhà tư vấn kinh tế của đài Á châu Tự do, ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Thị trường cho vay

Vũ Hoàng: Thưa ông, dưới tiêu đề “Tiểu doanh và Quốc doanh” của tuần trước, ông có nói đến hoàn cảnh khó khăn của các doanh nghiệp tư nhân loại nhỏ và vừa dưới chính sách ưu đãi các tập đoàn nhà nước và ưu thế của các đại gia có quan hệ tốt với đảng viên cán bộ. Kỳ này, xin đề nghị ông phân tích thêm về hoàn cảnh còn khó khăn hơn của các doanh nghiệp tư nhân đó khi cần đi vay, và từ đó kết luận về loại thị trường cho vay lãi nằm ngoài hệ thống chính thức. Ông nghĩ sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta đang chứng kiến một hiện tượng cố hữu của các nước chưa phát triển mạng lưới ngân hàng đủ sâu rộng cho yêu cầu tài trợ. Nhưng đó cũng là một sự kiện mới và đáng lo ngại cho tiểu doanh khi gặp cùng lúc nguy cơ lạm phát và suy trầm như Việt Nam ngày nay.
Vũ Hoàng: Ông nói rằng đó là hiện tượng cố hữu, điều ấy có nghĩa là gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Nhu cầu đi vay là chuyện nơi nào thời nào cũng có, và nạn đi vay với tiền lãi cắt cổ là điều đã thấy, tại Trung Quốc hay Việt Nam cũng vậy. Chuyện mới là hai quốc gia này đã cải cách kinh tế và muốn mở rộng mạng lưới huy động và tài trợ của các ngân hàng mà vẫn không giải quyết được yêu cầu chính đáng ấy.
Ngược lại, chế độ tổ chức bất công và chính sách quản lý lỏng lẻo còn dẫn tới nạn người đi vay bị nhiều tầng bóc lột. Ở trên, các đại gia thì có khả năng vay mượn chính thức với lãi suất thấp và cho ở dưới vay lại với tiền lời đắt hơn gấp bội. Mà mỗi dao động về lãi suất lại trút gánh nặng tài chính xuống đầu thành phần yếu thế ở dưới, trường hợp ta nói ở đây là các tiểu doanh thương.
Vũ Hoàng: Chúng ta bắt đầu từ chuyện đó, từ hiện tượng đi vay để cho vay lại.
Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta có một quy luật dễ hiểu là “nắm anh có tóc, không nắm anh trọc đầu” hoặc “chỉ nên cho nhà giàu vay tiền” vì đấy là người có khả năng trả nợ. Như vậy, những ai có tài sản thường là người dễ đi vay vì tài sản ấy là vật đảm bảo cho chủ nợ. Một hệ thống tài trợ hiện đại hơn thì phải tìm cách khắc phục bài toán này và cung cấp tín dụng cho những người có yêu cầu vay tiền mà chưa chắc là có điều kiện đảm bảo thích hợp với đòi hỏi của chủ nợ. Tất cả các nước đang phát triển đều dồn nỗ lực vào nhu cầu kinh tế và xã hội này, kể cả với giải pháp đẩy xe tiền hay loại “ngân hàng bỏ túi” đi cho vay ở các làng mạc xa xôi.
… thay vì dùng tiền đó vào đầu tư thì lại cho vay trên thị trường xám, tức là cho thành phần ở dưới vay lại, với nhiều tầng lãi suất chồng chất lên trên.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa
Bây giờ, ta nói đến trường hợp Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia đi theo kinh tế thị trường nhưng với “định hướng xã hội chủ nghĩa” dưới sự chỉ đạo của nhà nước. Chọn lựa chính trị ấy dẫn đến ưu thế của doanh nghiệp nhà nước ở trên cùng, dưới đó là các cơ sở có danh nghĩa tư doanh mà thực chất là công ty cổ phần do tay chân nhà nước lập ra với lợi thế hiển nhiên nhờ quan hệ. Dưới cùng mới là các tiểu doanh thương cò con của tư nhân, bị thường xuyên thiếu vốn nhưng cũng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho gia đình và địa phương.
Trong hoàn cảnh chung đã bất công như vậy, ta có thêm một vấn đề mới về chính sách. Đó là biện pháp bơm tín dụng với lãi suất rẻ kích thích kinh tế ra khỏi suy trầm. Thực tế “lãi suất rẻ” cũng là lãi suất âm nếu so với lạm phát. Hậu quả là hai tầng doanh nghiệp ở trên được vay nhẹ lãi vì thuộc diện chính sách và thay vì dùng tiền đó vào đầu tư thì lại cho vay trên thị trường xám, tức là cho thành phần ở dưới vay lại, với nhiều tầng lãi suất chồng chất lên trên. Tại các địa phương nghèo túng lạc hậu nhất, đa số người dân phải đi vào thị trường tài trợ ấy với giá cắt cổ.

Nước chảy chỗ trũng

Vũ Hoàng: Chúng tôi hiểu ra bức tranh màu xám này của những người muốn vay tiền mà thiếu điều kiện hoặc tiêu chuẩn đảm bảo đáng tin, cho nên nước lại chảy vào chỗ trũng. Nhưng nếu nhìn ngược lên trên thì ta cũng phải thông cảm với những đòi hỏi của ngân hàng vì đã cho vay ra thì cũng phải thu được nợ chứ?

000_Hkg5395619-250.jpg
Người dân Trung Quốc tìm kiếm cơ hội việc làm tại một hội chợ việc làm ở tỉnh An Huy phía đông Trung Quốc hôm 26/9/2011. AFP
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đòi hỏi ấy quả là chính đáng mà sự thật lại không sạch sẽ minh bạch như vậy. Ngân hàng thì yên tâm cho đại gia vay tiền vì tin vào khả năng trả nợ của thành phần gọi là “có máu mặt” này và vì đấy là chính sách ở trên ban xuống. Nhưng sau đó, các khoản tiền đó chảy đi đâu thì ngân hàng hết biết nữa. Thế rồi thực tế là nhiều đại gia đã đi vay bừa phứa để cho ở dưới vay lại mà cũng không biết là vay vào việc gì miễn là vẫn thu được tiền lời cắt cổ. Chính là khoản lãi ấy lại khiến ở dưới chết kẹt và không trả được nợ và mấy tầng khách nợ ấy sụp đổ làm ngân hàng mất vốn.

Chuyện thứ hai là trong toà tháp vay mượn nhiều tầng này, ta dễ thấy xảy ra mô hình quịt nợ chồng chất, là đi vay người này và trả nợ cho người khác. Người ta gọi đó là đi vay kiểu Ponzi. Trong tháng Chín vừa qua, Trung Quốc đã thấy hai trường hợp đại gia quịt nợ, tại Phúc Kiến và tại Chiết Giang, sau khi gian lận trục lợi mấy chục triệu đô la ở giữa. Và không khí hốt hoảng ấy càng khiến giới tiểu thương vất vả. Tại Việt Nam, tôi e rằng tình hình còn khốn đốn hơn vậy.
Vũ Hoàng: Vì sao ông cho rằng tình hình tại Việt Nam lại còn khốn đốn hơn?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta nên suy ra một số yếu tố tâm lý sau đây thì có thể hiểu được sự thể.
Thứ nhất là tâm lý bi quan nói chung của mọi người, nhất là của giới tiểu doanh thương đang bị đọng vốn và tồn kho chồng chất mà bán không chạy. Thứ hai là tâm lý lạc quan của một thiểu số có tiền và đi vào thị trường đầu tư như bước vào sòng bạc với kỳ vọng kiếm lời thật nhanh và rút ra thật lẹ. Sau cùng là sự tuyệt vọng của đại đa số trước quá nhiều vấn đề của quốc gia và xã hội từ kinh doanh, kinh tế đến an ninh.
Hậu quả chung là nhiều người vay tiền để đầu cơ, thí dụ như vào vàng và đô la và mất vốn khi thị trường đang điên đảo như hiện tại. Một số người còn tuyệt vọng hơn vậy, họ vay tiền với lãi suất rất đắt, có khi là sáu bảy phân một tháng, tức là có thể đến 80% một năm, mà khỏi nghĩ đến chuyện trả nợ. Họ vay tiền để tiêu xài cho sướng vì không còn tin vào ngày mai nữa nên các tay cho vay lãi cắt cổ như vậy cũng sẽ mất vốn và gây họa dây chuyền cho ngân hàng. Kết cuộc thì giới tiểu doanh thương chết kẹt và có khi theo nhau phá sản, là chuyện người ta đang e ngại sẽ bùng nổ tại Trung Quốc rồi đến Việt Nam.
Ta có một quy luật dễ hiểu là “nắm anh có tóc, không nắm anh trọc đầu” hoặc “chỉ nên cho nhà giàu vay tiền” vì đấy là người có khả năng trả nợ.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Có lẽ ông đang vẽ ra một bức tranh cực kỳ đen tối cho Việt Nam. Ông dựa trên cơ sở gì mà lý giải như vậy?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Hãy nói về thời sự, ta đang có một trận bão vàng, với giá vàng lên tới đỉnh là hơn 1.800 Mỹ kim một troy ounce rồi trong có mấy ngày sụt mạnh đến độ người ta nói đến điểm nâng là 1.500 đồng và nếu sụt dưới mức đó, vàng có thể chỉ còn chừng 1.200 đồng! Thế giới đang chóng mặt về chuyện đó, mà thị trường vàng tại Việt Nam còn dao động nặng hơn, với giá vàng cao hơn giá bên ngoài. Ta thấy ra yếu tố đầu cơ là chính, và khi có biến động giá cả như hiện nay, hệ thống đầu cơ sẽ sụp đổ. Nguy cơ sụp đổ ấy rất dễ gây phản ứng phi lý.
Chuyện thứ hai là Mỹ kim lại lên giá, lần thứ nhì kể từ năm 2008, vì những lý do quốc tế quá phức tạp mà chúng ta đã cố dự bào từ đầu Tháng Tám và chỉ có thể phân tích vào một kỳ khác. Hiệu ứng của chuyện đô la lên giá và cả mối lo là đầu tư nước ngoài sẽ rút khỏi Việt Nam khiến đô la – ngoài vàng – sẽ là một vấn đề khác cho việc quản lý vĩ mô của nhà nước. Nhiều doanh nghiệp vì vậy đang bị nguy cơ bất ổn rất nặng về ngoại hối.
Lồng trong đó là khung cảnh trì trệ của sản xuất trong ba quý đầu năm với áp lực lạm phát còn quá cao và đẩy lãi suất lên trời, người ta không thể không bi quan. Làm sao có thể kinh doanh có lời với lãi suất thực tế mấp mé 20% một năm được? Không thể đầu tư có lời thì đầu cơ và thổi lên bong bóng. Khi thấy bong bóng địa ốc bắt đầu vỡ, thấy chính quyền lúng túng về chính sách tài chính, và lại ứng xử rất lạ với sức ép của Trung Quốc, người ta có cảm tượng tuyệt vọng.
Nhiều người nói đến tâm lý còn bất an hơn hồi Tháng Tư năm 1975 và thiểu số có tiền bèn đi vay theo kiểu Ponzi để đốt pháo bông cho một kết cuộc họ mong là sẽ huy hoàng! Có người nói đến tình trạng họ gọi là “chết lâm sàng” của kinh tế Việt Nam. Khi được biết như vậy từ trong nước thì thú thật là tôi cũng thấy lạnh mình.

Đầu tư và đầu cơ

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ có dịp chứng nghiệm chuyện này trong những ngày tới. Nhưng, một cách rất bình tĩnh và lạnh lùng, ông nghĩ là người Việt nói chung còn có thể làm gì vào lúc này?

000_Hkg5395633-250.jpg
Một bảng hiển thị chỉ số chứng khoán Hang Seng, Hồng Kông vào ngày 27 Tháng Chín, 2011. AFP photo
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết là tránh phản ứng bầy đàn và chết oan vì những nhiễu âm trên một thị trường mờ ảo làm mình ham hố rồi hốt hoảng. Thứ hai là người có tiền thì cần phân biệt đầu tư với đầu cơ. Cả hai loại nghiệp vụ này đều có rủi ro nhưng đầu cơ đem lại kỳ vọng phi lý thì cũng gây rủi ro sạt nghiệp. Như vậy, bài học cơ bản vẫn là đừng đem tài sản sinh hoạt của gia đình vào đầu cơ để khi mất hết thì dễ có phản ứng tự sát!

Trở lại chuyện thị trường xám của những kẻ cho vay với lãi suất ngày xưa dân ta cứ gọi là theo tiếng Pháp là “xanh-xít, đít đui”, là năm sáu phần trăm, là 10-12 %, chúng ta nên tránh điều ấy, nhất là trong những tháng tết nhất sắp tới đây. Và ngược lại nên chờ đợi là sẽ thấy rất nhiều ngân hàng loại nhỏ sẽ theo sau phá sản vì mất nợ.
Vũ Hoàng: Tổng kết lại, ngoài tinh thần lạc quan hồ hởi thiếu cơ sở của người dân, nhất là những kẻ vay tiền đầu cơ và đang chết kẹt, ông có thấy rằng chính sách nhà nước cũng góp phần gieo họa hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thật ra, đa số các vụ khủng hoảng kinh tế tài chính là do con người gây ra.
Một thí dụ tại Trung Quốc là chính nhà nước đã mặc nhiên khuyến khích sự hình thành của loại thị trường xám khi tư doanh bắt đầu được phép xuất hiện, cách nay gần ba chục năm. Lãnh đạo của họ coi đó là một cách tài trợ tiểu doanh thương ở dưới khi mạng lưới ngân hàng nhà nước chưa đủ sức cáng đáng. Sau đấy, chính sách ưu đãi khu vực kinh tế nhà nước và tay chân thân tộc của đảng viên cán bộ đã lại dồn tài nguyên vào trong tay một thiểu số ở trên và thiểu số này bèn trục lợi bất chính nhờ ưu thế của họ. Vì vậy, ngày nay thị trường xám trở thành tai ách cho tiểu doanh và nếu họ phá sản thì hệ thống ngân hàng ở trên cũng lãnh họa.
Như vậy, bài học cơ bản vẫn là đừng đem tài sản sinh hoạt của gia đình vào đầu cơ để khi mất hết thì dễ có phản ứng tự sát!
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa
Một thí dụ thứ hai là tại Việt Nam, khi chính quyền muốn tránh hiện tượng “đô la hoá” bằng cách đặt ra lãi suất trần cho các khoản ký thác bằng Mỹ kim. Lãi suất huy động thấp khiến ngân hàng có thể cho vay nhẹ lại hơn là cho vay bằng bạc Việt Nam, thực tế thì chưa bằng phân nửa! Trong một nền kinh tế cứ gọi là thị trường, sai biệt đó dẫn đến tính toán lệch lạc. Thí dụ như đi vay ngắn hạn để tài trợ vốn luân lưu mà thật ra là đề tài trợ đầu tư dài hạn và rủi ro tất nhiên xảy ra, là chuyện ta đang chứng kiến khi Mỹ kim bất ngờ lên giá. Lồng trong đó là nhiều vụ quịt nợ sau khi đi vay để đầu cơ mà không có cơ sở thẩm định rủi ro cho rõ ràng. Và sau cùng, như ở mọi nơi, hiện tượng cứ đi vay tiếp để trả nợ tiếp theo lối lường gạt gọi là “mô hình Ponzi” đã trở thành phổ biến.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Không có nhận xét nào: